Wiki - KEONHACAI COPA

Sự nghiệp diễn xuất của Humphrey Bogart

Bogart trong bộ phim Brother Orchid, năm 1940

Humphrey Bogart (1899–1957)[1][2] là một nam diễn viên và nhà sản xuất người Mỹ trong suốt 36 năm sự nghiệp, bắt đầu từ các vở kịch sân khấu trực tiếp ở New York vào năm 1920. Ông sinh ra tại một gia đình giàu có ở Upper West Side, New York[3] và là con đầu lòng cũng như con trai duy nhất của họa sĩ minh họa Maud Humphrey cùng bác sĩ Belmont Deforest Bogart.[1] Ông sau đó còn có thêm hai người em gái là Patricia và Catherine.[4] Cha mẹ của Bogart tin rằng ông sẽ đạt thành tích xuất sắc trong học tập và có thể trúng tuyển Đại học Yale, trở thành bác sĩ phẫu thuật. Họ đã ghi danh ông vào các trường tư thục gồm Học viện Delancey, Trinity và Phillips Academy, nhưng Bogart lại không có khuynh hướng trở thành một học giả và chưa bao giờ hoàn thành chương trình học tại Phillips. Ông sau đó đã gia nhập Hải quân Hoa Kỳ năm 1918.[5]

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Bogart tham gia vào các tác phẩm sân khấu. Ban đầu ông được tuyển vào làm quản lý sân khấu cho hai vở kịch ExperienceThe Ruined Lady, trước khi lần đầu xuất hiện trên sân khấu trong vở kịch Drifting vào năm 1922. Một truyền thuyết lặp đi lặp lại về Bogart là câu thoại của ông trong vở kịch Hell's Bells năm 1925 "Có ai chơi quần vợt không?" ("Tennis, anyone?"), nhưng Bogart đã phủ nhận điều đó, nói rằng câu thoại của ông là "Ngoài kia là bốn mươi tình yêu."[a][6] Toàn bộ các vai diễn trên sân khấu của ông bao gồm hơn một tá vở kịch, kéo dài trên một thập kỷ. Ông bắt đầu theo đuổi sự nghiệp điện ảnh vào năm 1928, lần đầu tiên xuất hiện trong bộ phim ngắn The Dancing Town và sau đó là Broadway's Like That năm 1930. Bogart đã xuất hiện trong 75 bộ phim truyện và khi đó ông tin rằng bản thân đang trên con đường trở thành một ngôi sao khi ký hợp đồng năm 1929 với Fox Film. Các tác phẩm ông đóng cho hãng gồm A Devil with Women, Up the River, A Holy Terror, Body and SoulWomen of All Nations, cũng như Bad Sister cho Universal Pictures, nhìn chung là một sự thất vọng đối với Bogart và ông đã quyết định trở lại hoạt động sân khấu ở New York.

Vai diễn mang tính bước ngoặt của Bogart là tên sát nhân bỏ trốn Duke Mantee mà ông đóng trong 197 buổi biểu diễn vở kịch The Petrified Forest vào năm 1935 trên sân khấu Broadway, với nam diễn viên Leslie Howard là người thủ vai chính. Vở kịch và vai diễn trong phiên bản điện ảnh đã đưa Bogart trở thành ngôi sao và giúp ông có được một hợp đồng điện ảnh với Warner Bros.. Ông đã tham gia đóng phim trong 48 tác phẩm cho hãng, nổi bật trong số này có The Maltese Falcon, To Have and Have Not, Key LargoCasablanca, tác phẩm mang về cho Bogart đề cử đầu tiên cho Giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất. Bogart cuối cùng giành được giải thưởng tại lần đề cử thứ hai cho màn trình diễn năm 1951 của ông trong bộ phim The African Queen của United Artists. Đề cử Oscar thứ ba của ông là cho diễn xuất trong bộ phim The Caine Mutiny năm 1954 của Columbia Pictures. Ngoài sự nghiệp điện ảnh của mình, Bogart cũng đóng vai khách mời trong nhiều chương trình phát thanh và truyền hình, chủ yếu là diễn lại các vai diễn điện ảnh của ông. Ông sau đó tiếp tục thành lập công ty Santana Productions vào năm 1948; bộ phim In a Lonely Place sản xuất năm 1950 của công ty đã được Viện lưu trữ phim quốc gia chọn để bảo tồn vĩnh viễn vì ý nghĩa của nó "về mặt văn hóa, lịch sử hoặc thẩm mỹ". Santana Productions cũng tạo ra một loạt radio nửa giờ trong hai năm 1951 và 1952 Bold Venture như là một phương tiện quảng bá cho Bogart và vợ ông Lauren Bacall.

Sân khấu Broadway (1920–1935)[sửa | sửa mã nguồn]

Bogart và Shirley Booth trong vở kịch Hell's Bells (1925)

Sau khi Bogart hoàn thành nghĩa vụ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cho Hải quân Hoa Kỳ, ông tìm được một việc làm sân khấu ở New York. Ông đã quản lý sân khấu cho vở kịch Experience năm 1920 và sau đó trở thành người quản lý tour diễn cho vở The Ruined Lady.[1] Thời điểm mới bắt đầu theo đuổi sự nghiệp diễn xuất, vai diễn đầu tay của ông là trong vở kịch Drifting năm 1922.[7]

Bogart đã xuất hiện trong 18 tác phẩm trên sân khấu Broadway, bao gồm cả vai diễn đưa ông đến với danh tiếng và thành công trong lĩnh vực điện ảnh; từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1935, ông đã xuất hiện trong 197 buổi biểu diễn của vở The Petrified Forest trong vai Duke Mantee, một kẻ giết người chạy trốn qua biên giới Arizona-Mexico để trốn khỏi sự truy bắt của cảnh sát.[8] Leslie Howard góp mặt trong vai chính Alan Squier.[9] Ngoại trừ The Petrified Forest, các nguồn tin không cho biết Bogart có tham gia vào tất cả các buổi diễn của vở kịch nào không.

Các vai diễn Humphrey Bogart từng tham gia tại sân khấu Broadway[10]
Vở kịchNămVai diễnRạp hátGhi chúNguồn.
Drifting1922Nhiều vaiNhà hát Playhouse[7]
Swifty1922Tom ProctorNhà hát Playhouse[11]
Meet the Wife1923Gregory BrownNhà hát Klaw[12]
Nerves1924Bob ThatchNhà hát Hài kịch[13]
Hell's Bells1925Jimmy TodhunterNhà hát của Wallack[14]
Cradle Snatchers1925Jose VallejoNhà hát Music Box[15]
Baby Mine1927Alfred HardyNhà hát Đường 46 Chanin[16][17]
Saturday's Children1927Rims O'NeilNhà hát Booth[18]
Saturday's Children1928Rims O'NeilNhà hát Forrest[19]
Skyrocket1929Vic. EwingNhà hát Lyceum[20]
It's a Wise Child1929–1930Roger BaldwinNhà hát Belasco[21]
After All1931Duff WilsonNhà hát Booth[22]
I Loved You Wednesday1932Randall WilliamsNhà hát Sam H. Harris[23]
Chrysalis1932Don EllisNhà hát Martin Beck[24]
Our Wife1933Jerry MarvinNhà hát Booth[25]
The Mask and the Face1933Luciano SpinaNhà hát Nghiệp đoàn[26]
Invitation to a Murder1934Horatio ChanningNhà hát Masque[27]
The Petrified Forest1935Duke ManteeNhà hát BroadhurstBiểu diễn 197 lần, đóng cùng với Leslie Howard trong vai chính Alan Squier[9]

Phim ngắn (1928–1930)[sửa | sửa mã nguồn]

Bogart luôn tin rằng sự nghiệp tương lai của mình là ở ngành công nghiệp điện ảnh đang phát triển mạnh mẽ. Sau khi ký hợp đồng với Charles Frohman Productions, ông được chọn vào vai nam chính cùng với nữ diễn viên Helen Hayes trong bộ phim câm The Dancing Town (1928) của Paramount Pictures.[28] Ông cũng xuất hiện trong bộ phim ngắn của Vitaphone, Broadway's Like That (1930), có sự góp mặt của Joan Blondell và Ruth Etting.[29]

Các bộ phim ngắn Humphrey Bogart từng tham gia
Tên phimNămVai diễnGhi chúNguồn.
Dancing Town, TheThe Dancing Town1928Người đàn ông tại bữa tiệc nhảyParamount Pictures[30]
Broadway's Like That1930Vị hôn phu của RuthSoundtrack đã bị thất lạc

Vitaphone

[31]

Phim điện ảnh (1930–1956)[sửa | sửa mã nguồn]

Claire Luce và Bogart trong phim Up the River (1930)
Bogart, Leslie Howard và Bette Davis trong phim The Petrified Forest (1936)
Bogart trong trailer của The Petrified Forest (1936)
James Cagney và Bogart trong phim The Roaring Twenties (1939)
Bogart trong phim The Maltese Falcon (áp phích năm 1941)
Bogart và vai Sam Spade trong trailer phim The Maltese Falcon
Dooley Wilson và Bogart trong phim Casablanca (1942)
Bacall và Bogart trong phim To Have and Have Not (1944)
In a Lonely Place (áp phích năm 1950)
Katharine Hepburn và Humphrey Bogart trong phim The African Queen (1951)

Humphrey Bogart đã vào vai 75 bộ phim điện ảnh khác nhau trong suốt sự nghiệp của mình. Có hai sự kiện tình cờ đã giúp mở đường cho tham vọng sự nghiệp của ông. Trong nửa cuối những năm 1920, sự chuyển đổi của ngành công nghiệp điện ảnh từ kỷ nguyên phim câm sang phim có tiếng đã chuyển hướng trọng tâm sang các diễn viên sân khấu có tài năng thanh nhạc được rèn giũa trực tiếp trước khán giả.[32] Khi sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 gây ra cuộc Đại khủng hoảng ở Hoa Kỳ, việc tài trợ cho các buổi biểu diễn trên sân khấu trở nên bấp bênh.[32] Em rể của Bogart, Stuart Rose,[33] cũng là nhân viên của Fox Film, đã sắp xếp được một buổi thử vai cho ông với Al Lewis, giám đốc điều hành Fox. Sau khi xem màn trình diễn của Bogart, văn phòng chi nhánh tại Hollywood của Fox đã ra chỉ thị yêu cầu Lewis phải cho Bogart ký hợp đồng với mức lương 750 USD mỗi tuần và số tiền này sẽ tăng lên 1.000 USD mỗi tuần nếu ông đạt thành tích như mong đợi:[32]

Tôi sẽ trở thành ngôi sao điện ảnh lớn nhất mà Hollywood từng thấy.

— Humphrey Bogart nói sau khi ký hợp đồng với Fox vào năm 1929[34]

Các bộ phim được thực hiện tại Hollywood theo hợp đồng của Bogart với Fox là Up the River (1930), A Devil with Women (1930), A Holy Terror (1931), Body and Soul (1931) và Women of All Nations (1931; tất cả các cảnh của ông trong phim đã bị cắt). Khi còn ở California, ông cũng vào vai trong phim Bad Sister (1931) của hãng Universal Pictures. Tuy nhiên, Bogart lại không mấy ấn tượng với thành phẩm cuối cùng và quyết định quay trở lại sự nghiệp sân khấu của mình ở New York.[17]

Khi Warner Bros. mua bản quyền làm phim của vở kịch The Petrified Forest, hãng đã giữ lại Leslie Howard trong vai chính mà ông thể hiện trên sân khấu Broadway, nhưng thay thế Bogart bằng Edward G. Robinson trong vai Mantee. Howard đã can thiệp vào hợp đồng để đòi lại vai diễn cho đồng nghiệp sau đó.[9][35] Nhờ sự thành công với màn trình diễn trong bộ phim phát hành năm 1936, Jack L. Warner đã ký kết hợp đồng với Bogart cho mức lương khởi điểm 550 USD một tuần, kèm theo các điều khoản đạo đức và những lựa chọn tài chính có thể đem lại cho ông mức lương cao hơn gấp ba lần thu nhập hàng tuần.[36]

Ông đã tiếp tục xuất hiện trong các bộ phim truyện suốt phần đời còn lại của mình và từng tuyên bố rằng "tại Warner Bros. vào những năm 30, tôi đã trở thành một nhà máy sản xuất phim một thành viên."[37] Tổng cộng, ông vào vai trong 48 bộ phim cho Warner Bros., nhiều hơn bất kỳ hãng phim nào khác mà ông từng làm việc. Các tác phẩm nổi bật của Bogart gồm một số bộ phim nổi tiếng nhất trong sự nghiệp điện ảnh của ông, gồm: Dark Victory (1939), High Sierra (1941), The Maltese Falcon (1941), Casablanca (1942), To Have and Have Not (1944), The Big Sleep (1946), The Treasure of the Sierra Madre (1948) và Key Largo (1948).[38]

Vào năm 1948, Bogart đã thành lập Santana Productions, công ty sản xuất những bộ phim nổi tiếng như Knock on Any Door (1949), Tokyo Joe (1949), And Baby Makes Three (1949) với sự tham gia của Robert Young và Barbara Hale; Sirocco (1951), The Family Secret (1951) với sự tham gia của John Derek và Lee J. Cobb và Beat the Devil (1951), tác phẩm nhại lại The Maltese Falcon của Bogart. Đặc biệt, tác phẩm In a Lonely Place (1950) của công ty đã được thêm vào danh sách của Viện lưu trữ phim quốc gia vào năm 2007, "được lưu giữ cho mọi thời đại". Việc đưa bộ phim vào danh sách dựa trên sự quan trọng đáng kể "về mặt văn hóa, lịch sử hoặc thẩm mỹ" của phim.[39]

Danh sách phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phim điện ảnh Humphrey Bogart từng tham gia[40]
Tên phimNămVai diễnGhi chúNguồn.
Devil with Women, AA Devil with Women1930Tom StandishFox Film[41]
Up the River1930Steve JordanFox Film[42]
Bad Sister1931Valentine CorlissUniversal Pictures
Phát hành thông qua Warner Bros.
[43]
Holy Terror, AA Holy Terror1931Steve NashFox Film[44]
Body and Soul1931Jim WatsonFox Film[45]
Women of All Nations1931Stone
Các cảnh có mặt ông đã bị xóa trong phim
Fox Film[46]
Big City Blues1932Shep AdkinsWarner Bros.[47]
Three on a Match1932HarveWarner Bros.[48]
Love Affair1932Jim LeonardColumbia Pictures[49]
Midnight1934Gar BoniCòn có tên khác là Call It Murder
Universal Pictures
[50]
Petrified Forest, TheThe Petrified Forest1936Duke ManteeWarner Bros.[51]
Bullets or Ballots1936Nick "Bugs" FennerWarner Bros.[52]
Two Against the World1936Sherry ScottCòn có tên khác là One Fatal Hour
Warner Bros.
[53]
China Clipper1936Hap StuartFirst National Pictures[54]
Isle of Fury1936Valentine "Val" StevensWarner Bros.[55]
Black Legion1937Frank TaylorWarner Bros.[56]
Great O'Malley, TheThe Great O'Malley1937John PhillipsWarner Bros.[57]
Marked Woman1937Luật sư Quận David GrahamWarner Bros.[58]
San Quentin1937Joe "Red" KennedyWarner Bros.[59]
Kid Galahad1937Turkey MorganWarner Bros.[60]
Dead End1937Hugh "Baby Face" MartinSamuel Goldwyn Productions[61]
Stand-In1937Doug QuintainWalter Wanger Productions[62]
Swing Your Lady1938Ed HatchWarner Bros.[63]
Crime School1938Phó ủy viên Mark BradenWarner Bros.[64]
Men Are Such Fools1938Harry GalleonWarner Bros.[65]
Racket Busters1938Pete "Czar" MartinWarner Bros.[66]
Amazing Dr. Clitterhouse, TheThe Amazing Dr. Clitterhouse1938"Rocks" ValentineWarner Bros.[67]
Angels with Dirty Faces1938James FrazierWarner Bros.[68]
King of the Underworld1939Joe GurneyWarner Bros.[69]
Oklahoma Kid, TheThe Oklahoma Kid1939Whip McCordWarner Bros.[70]
You Can't Get Away with Murder1939Frank WilsonWarner Bros.[71]
Dark Victory1939Michael O'LearyWarner Bros.[72]
Roaring Twenties, TheThe Roaring Twenties1939George HallyWarner Bros.[73]
Return of Doctor X, TheThe Return of Doctor X1939Bác sĩ Maurice Xavier, hay Marshall QuesneWarner Bros.[74]
Invisible Stripes1939Chuck MartinWarner Bros.[75]
They Drive by Night1940Paul FabriniWarner Bros.[76]
Virginia City1940John MurrellWarner Bros.[77]
It All Came True1940Grasselli hay Chips MaguireWarner Bros.[78]
Brother Orchid1940Jack BuckWarner Bros.[79]
High Sierra1941Roy EarleWarner Bros.[80]
Wagons Roll at Night, TheThe Wagons Roll at Night1941Nick CosterWarner Bros.[81]
Maltese Falcon, TheThe Maltese Falcon1941Sam SpadeTác phẩm đầu tay của Sydney Greenstreet
Warner Bros.
[82]
All Through the Night1942Alfred 'Gloves' DonahueWarner Bros.[83]
Big Shot, TheThe Big Shot1942Joseph "Duke" BerneWarner Bros.[84]
Across the Pacific1942Rick LelandWarner Bros.[85]
Casablanca1942Rick BlaineĐược đề cử Giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất
Warner Bros.
[86]
Action in the North Atlantic1943Trung úy Joe RossiWarner Bros.[87]
Sahara1943Trung sĩ Joe GunnColumbia Pictures[88]
Thank Your Lucky Stars1943Chính mìnhWarner Bros.[89]
Passage to Marseille1944Jean MatracWarner Bros.[90]
To Have and Have Not1944Harry "Steve" MorganBộ phim đầu tiên của Lauren Bacall
Warner Bros.
[91]
Conflict1945Richard MasonWarner Bros.[92]
The Big Sleep1946Philip MarloweWarner Bros.[93]
Dead Reckoning1947Đại úy Warren "Rip" MurdockColumbia Pictures[94]
Two Mrs. Carrolls, TheThe Two Mrs. Carrolls1947Geoffrey CarrollWarner Bros.[95]
Dark Passage1947Vincent ParryWarner Bros.[96]
Always Together1948Chính mìnhWarner Bros.[97]
Treasure of the Sierra Madre, TheThe Treasure of the Sierra Madre1948Fred C. DobbsWarner Bros.[98]
Key Largo1948Frank McCloudWarner Bros.[99]
Knock on Any Door1949Andrew MortonSantana Productions[100]
Tokyo Joe1949Joseph "Joe" BarrettSantana Productions[100]
Chain Lightning1950Trung tá Matthew "Matt" BrennanWarner Bros.[101]
In a Lonely Place1950Dixon SteeleSantana Productions

Đã được thêm vào Viện lưu trữ phim quốc gia vào năm 2007 vì sự quan trọng đáng kể "về mặt văn hóa, lịch sử hoặc thẩm mỹ"

[39][102]
Enforcer, TheThe Enforcer1951Biện lý quận Martin FergusonUnited States Pictures[100]
Sirocco1951Harry SmithSantana Productions[103]
African Queen, TheThe African Queen1951Charlie AllnutThắng Giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất
United Artists
[104]
Deadline – U.S.A.1952Ed HutchesonFox Film[105]
Battle Circus1953Thiếu tướng Jed WebbeMGM[106]
Beat the Devil1953Billy DannreutherRomulus Films
Santana Pictures Corporation
[107]
Caine Mutiny, TheThe Caine Mutiny1954Trung úy Chỉ huy trưởng Philip Francis QueegĐược đề cử Giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất
Columbia Pictures
[108]
Sabrina1954Linus LarrabeeParamount Pictures[109]
Barefoot Contessa, TheThe Barefoot Contessa1954Harry DawesFigaro
United Artists
[110]
We're No Angels1955JosephParamount Pictures[111]
Left Hand of God, TheThe Left Hand of God1955James "Jim" CarmodyFox Film[112]
Desperate Hours, TheThe Desperate Hours1955Glenn GriffinParamount Pictures[113]
The Harder They Fall1956Eddie WillisColumbia Pictures[114]

Các lần xuất hiện trên phim không được ghi danh (1944–1954)[sửa | sửa mã nguồn]

Thi thoảng Bogart xuất hiện trong các tác phẩm gây quỹ công khai hoặc thể hiện chủ nghĩa ái quốc trên phim. Ông cũng xuất hiện trong vai khách mời, một số không được ghi danh, trong những bộ phim khác.

Các lần xuất hiện trên phim không được ghi danh của Humphrey Bogart[40]
Tên phimNămGhi chúNguồn.
I Am an American1944Sản xuất cho Ngày Hiến pháp[b]
Report from the Front1944Phim ngắn gây quỹ của Hội Chữ thập Đỏ Hoa Kỳ[29]
Hollywood Victory Caravan1944Phim quảng bá cho Trái phiếu Victory
Two Guys From Milwaukee1946Một bộ phim của Warner Bros., với Bogart và Bacall làm cameo không ghi danh cùng ngồi tại một cái bàn
Always Together1948Vai nhỏ trong tác phẩm nhại lại bộ phim Stella Dallas, Bogart vào vai cameo đang khóc bên khung cửa sổ.
Road to Bali1952Một đoạn trích ngắn lấy từ phim The African Queen
US Savings Bond trailer1952Bogart kêu gọi người dân Mỹ mua trái phiếu tiết kiệm
The Love Lottery1954Cameo không ghi danh
Phim có sự góp mặt của David Niven cho Ealing Studios

Phát thanh và truyền hình (1939–1955)[sửa | sửa mã nguồn]

Bogart đã xuất hiện trên rất nhiều chương trình phát thanh và truyền hình trong suốt sự nghiệp của mình. Lux Radio Theater là một loạt chương trình tuyển tập radio bao gồm những bản chuyển thể của các vở kịch tại sân khấu Broadway và kịch bản phim. Chương trình được phát sóng trên đài Blue Network của National Broadcasting Company (tiền thân American Broadcasting Company; 1934–35);[116] đài CBS (1935–54) và đài NBC (1954–55). The Screen Guild Theater (hay còn gọi là Gulf Screen Guild Theater hoặc Stars in the Air) là loạt tuyển tập radio được phát sóng từ năm 1939 đến 1952.[117] Academy Award Theatre là chương trình radio năm 1946 bao gồm các bản chuyển thể kịch nói từ kịch bản phim.[118] Kraft Music Hall là một chương trình tạp kỹ phát thanh trên đài NBC từ năm 1933 đến năm 1949.[119] Loạt chương trình phát thanh nửa giờ Bold Venture, dài 78 tập trong khoảng thời gian từ 1951 đến 1952, được tạo ra bởi Santana Productions, cũng đóng vai trò như một phương tiện quảng bá cho Bogart và vợ ông là Lauren Bacall.[120]

Các chương trình phát thanh và truyền hình Humphrey Bogart từng tham gia
Chương trìnhTập phimNgày phát sóngNguồn.
Lux Radio TheatreBullets or Ballots17 tháng 4 năm 1939[121]
The Gulf Screen Guild TheaterThe Petrified Forest7 tháng 1 năm 1940[122]
The Gulf Screen Guild TheaterThe Amazing Dr. Clitterhouse2 tháng 11 năm 1941[123]
The Gulf Screen Guild TheaterIf Only You Could Cook23 tháng 11 năm 1941[122]
The Screen Guild TheaterHigh Sierra4 tháng 1 năm 1942[124]
Jack Benny Radio ProgramThe Frightwig Murder Case1 tháng 2 năm 1942[125]
The Screen Guild TheaterCasablanca26 tháng 4 năm 1943[126]
The Screen Guild TheaterThe Maltese Falcon20 tháng 9 năm 1943[127]
Screen Guild PlayersHigh Sierra17 tháng 4 năm 1944[128]
Lux Radio TheatreMoontide30 tháng 4 năm 1945[129]
Academy Award TheatreThe Maltese Falcon3 tháng 7 năm 1946[127]
Lux Radio TheatreTo Have and Have Not14 tháng 10 năm 1946[130]
Jack Benny Radio Program5 tháng 1 năm 1947[131]
Kraft Music Hall6 tháng 11 năm 1947[132]
Lux Radio TheatreTreasure of the Sierra Madre18 tháng 4 năm 1949[133]
Bold Venture78 tập của loạt radio26 tháng 3 năm 1951[134]
Stars in the Air
(Screen Guild Theater)
The House on 92nd Street3 tháng 5 năm 1952[135]
Lux Radio TheatreThe African Queen15 tháng 12 năm 1952[136]
Jack Benny television program (CBS -TV)25 tháng 10 năm 1953[137]
Producers' Showcase (NBC -TV)The Petrified Forest30 tháng 5 năm 1955[51]

Giải thưởng và danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đề cử đầu tiên của Bogart cho Giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất là vai diễn trong bộ phim Casablanca (1942),[138] tác phẩm mà ban đầu ông và các diễn viên Ingrid Bergman và Paul Henreid tin rằng nội dung không có nhiều ý nghĩa.[139][138] Bogart đã giành được giải thưởng tại lần đề cử thứ hai cho màn trình diễn năm 1951 của ông trong tác phẩm The African Queen của United Artists. Ông cũng được đề cử vào hạng mục lần thứ ba với vai diễn trong phim The Caine Mutiny (1954).[140] Ông sau đó đã nhận được một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood vào năm 1960.[141] Bưu điện Hoa Kỳ cũng vinh danh Bogart vào năm 1997 trong một buổi lễ tại Nhà hát Trung Hoa Grauman, công bố con tem của Bogart như là một phần của bộ tem "Những nhân vật Hollywood huyền thoại".[142] Năm 2006, con phố trước ngôi nhà thời niên thiếu của ông đã được đổi tên thành Humphrey Bogart Place.[3]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyên văn "It's forty-love outside. Anyone care to watch?", nghĩa đen "Ngoài kia tỷ số đang là 40-0. Có ai muốn xem không?" Chơi chữ: thuật ngữ love trong quần vợt dùng để chỉ số điểm bằng không hoặc trống, với love trong ngôn ngữ thông dụng là tình yêu
  2. ^ Đoạn phim ngắn dài 16 phút công chiếu tại các rạp ở Mỹ nhân ngày "I Am an American" (tạm dịch: Tôi Là một người Mỹ; nay được gọi là Ngày Hiến Pháp). I Am an American được sản xuất bởi Gordon Hollingshead, phần kịch bản do Crane Wilbur chắp bút. Ngoài Bogart, phim còn có sự tham gia diễn xuất của Gary Gray, Dick Haymes, Danny Kaye, Joan Leslie, Dennis Morgan, Knute Rockne, và Jay Silverheels.[115]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c Barbour 1973, tr. 11–12.
  2. ^ Porter 2010, tr. 500.
  3. ^ a b Fernandez, Manny (25 tháng 6 năm 2006). “You Must Remember This; A Sign Is Not Just a Sign”. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  4. ^ Porter 2010, tr. 11.
  5. ^ Porter 2010, tr. 11–12, 42–43.
  6. ^ Porter, Darwin (2003). The Secret Life of Humphrey Bogart: The Early Years (1899-1931) [Cuộc đời bí mật của Humphrey Bogart: Những năm đầu (1899-1931)] (bằng tiếng Anh). Blood Moon Productions, Ltd. tr. 78. ISBN 978-0-9668030-5-1. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  7. ^ a b IBDB, 12744.
  8. ^ TCM, 86562.
  9. ^ a b c IBDB, 7922.
  10. ^ IBDB, 32377.
  11. ^ IBDB, 9134.
  12. ^ IBDB, 7079.
  13. ^ IBDB, 9558.
  14. ^ Porter 2010, tr. 86.
  15. ^ IBDB, 9887.
  16. ^ IBDB, 10334.
  17. ^ a b Barbour 1973, tr. 13.
  18. ^ IBDB, 10218.
  19. ^ IBDB, 515950.
  20. ^ IBDB, 10827.
  21. ^ IBDB, 10915.
  22. ^ IBDB, 11454.
  23. ^ IBDb, 11642.
  24. ^ IBDB, 11674.
  25. ^ IBDB, 11730.
  26. ^ IBDB, 9699.
  27. ^ IBDB, 11881.
  28. ^ Porter 2010, tr. 117.
  29. ^ a b Barbour 1973, tr. 154.
  30. ^ Koszarski 2008, tr. 515.
  31. ^ Koszarski 2008, tr. 267.
  32. ^ a b c Porter 2010, tr. 129.
  33. ^ Porter 2010, tr. 96.
  34. ^ Porter 2010, tr. 130.
  35. ^ Porter 2010, tr. 255–256.
  36. ^ Porter 2010, tr. 258.
  37. ^ Porter 2010, tr. 269.
  38. ^ Porter 2010, tr. 481–492.
  39. ^ a b “Librarian of Congress Announces National Film Registry Selections for 2007” [Thủ thư của Quốc hội công bố các bộ phim được chọn bởi Viện lưu trữ phim quốc gia cho năm 2007]. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  40. ^ a b Barbour 1973, tr. 141–153.
  41. ^ AFI, 3729.
  42. ^ TCM, 94575.
  43. ^ AFI, 7637.
  44. ^ TCM, 78236.
  45. ^ AFI, 7263.
  46. ^ AFI, 6242.
  47. ^ AFI, 4912.
  48. ^ AFI, 4835.
  49. ^ AFI, 5117.
  50. ^ AFI, 6305.
  51. ^ a b AFI, 5920.
  52. ^ AFI, 4253.
  53. ^ AFI, 7647.
  54. ^ AFI, 3897.
  55. ^ AFI, 6233.
  56. ^ AFI, 835.
  57. ^ AFI, 6004.
  58. ^ AFI, 2647.
  59. ^ AFI, 3936.
  60. ^ AFI, 4886.
  61. ^ AFI, 4244.
  62. ^ AFI, 4448.
  63. ^ AFI, 5718.
  64. ^ AFI, 4296.
  65. ^ AFI, 6355.
  66. ^ AFI, 5847.
  67. ^ AFI, 3979.
  68. ^ AFI, 4049.
  69. ^ AFI, 4649.
  70. ^ AFI, 5109.
  71. ^ AFI, 8252.
  72. ^ AFI, 5039.
  73. ^ AFI, 4176.
  74. ^ AFI, 8085.
  75. ^ AFI, 5098.
  76. ^ AFI, 4635.
  77. ^ AFI, 4640.
  78. ^ AFI, 4647.
  79. ^ AFI, 5090.
  80. ^ AFI, 26738.
  81. ^ AFI, 27077.
  82. ^ AFI, 27025.
  83. ^ AFI, 27113.
  84. ^ AFI, 27139.
  85. ^ AFI, 27107.
  86. ^ AFI, 27175.
  87. ^ AFI, 24027.
  88. ^ AFI, 645.
  89. ^ AFI, 714.
  90. ^ AFI, 24119.
  91. ^ AFI, 24215.
  92. ^ Barbour 1973, tr. 149.
  93. ^ Barbour 1973, tr. 148-9.
  94. ^ AFI, 25134.
  95. ^ AFI, 25401.
  96. ^ AFI, 25131.
  97. ^ AFI, 25065.
  98. ^ AFI, 25784.
  99. ^ AFI, 25605.
  100. ^ a b c Barbour 1973, tr. 151.
  101. ^ AFI, 26262.
  102. ^ TCM, 25605.
  103. ^ AFI, 50293.
  104. ^ AFI, 50007.
  105. ^ AFI, 50459.
  106. ^ AFI, 50755.
  107. ^ AFI, 51130.
  108. ^ AFI, 51155.
  109. ^ AFI, 51337.
  110. ^ AFI, 51127.
  111. ^ AFI, 51721.
  112. ^ AFI, 51561.
  113. ^ AFI, 51481.
  114. ^ AFI, 51857.
  115. ^ TCM, 730264.
  116. ^ Dunning 1998, tr. 416–418.
  117. ^ Dunning 1998, tr. 600–601.
  118. ^ Dunning 1998, tr. 4.
  119. ^ Dunning 1998, tr. 386.
  120. ^ Dunning 1998, tr. 109–110.
  121. ^ “Radio Classics: Bullets or Ballots rebroadcast”. Radio Classics (bằng tiếng Anh). 18 tháng 11 năm 2015. Sirius XM. Channel 148. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  122. ^ a b “Screen Guild Theater .. episodic log” [Nhà hát Screen Guild .. nhật trình các tập phát sóng]. Jerry Haendiges Vintage Radio Logs (bằng tiếng Anh). Jerry Haendiges Productions. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  123. ^ UCLA, alma991964463506533.
  124. ^ “Screen Guild Theater” (bằng tiếng Anh). Internet Archive. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  125. ^ UCLA, alma991686283506533.
  126. ^ Bogart, Humphrey; Ingrid Bergman, Paul Henreid (1942). Casablanca: The Ultimate Collector's Edition (bộ DVD nhiều đĩa) (bằng tiếng Anh). Warner Home Video.
  127. ^ a b Bogart, Humphrey; Mary Astor, Gladys George (1941). The Maltese Falcon 3 Disc Special Edition (bộ DVD nhiều đĩa) (bằng tiếng Anh). Warner Home Video.
  128. ^ “Those Were The Days”. Nostalgia Digest (bằng tiếng Anh). 41 (3): 32–39. 2015.
  129. ^ “Lux Radio Theatre: Moontide (Humphry Bogart & Virginia Bruce) (Radio)”. The Paley Center for the Media (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  130. ^ “Bacall & Bogart Lux Theatre Stars”. Harrisburg Telegraph (bằng tiếng Anh). 12 tháng 10 năm 1946. tr. 17. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022 – qua Newspapers.com. Ấn phẩm cho phép truy cập mở - đọc miễn phí
  131. ^ UCLA, alma991702963506533.
  132. ^ UCLA, alma991963643506533.
  133. ^ UCLA, 50192.
  134. ^ Terrace 2015, tr. 49.
  135. ^ “Those Were the Days”. Nostalgia Digest (bằng tiếng Anh). 35 (2): 32–39. 2009.
  136. ^ Kirby, Walter (14 tháng 12 năm 1952). “Better Radio Programs for the Week” [Các chương trình phát thanh tốt hơn trong tuần]. The Decatur Daily Review (bằng tiếng Anh). tr. 54. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  137. ^ UCLA, alma99567393506533.
  138. ^ a b TCM, 610.
  139. ^ Chandler 2007, tr. 10, 82, 85.
  140. ^ TCM, 25162.
  141. ^ “Humphrey Bogart”. Hollywood Walk of Fame (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  142. ^ Boxall, Betina (1 tháng 8 năm 1997). “New Postage Stamp Gives Bogart His Due : Commemorative Issue Honoring Film Legend Unveiled in Hollywood” [Con tem bưu chính mới mà Bogart xứng đáng có được: Bộ tem kỷ niệm tôn vinh huyền thoại điện ảnh được tiết lộ ở Hollywood]. Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Trang web[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Wiki - Keonhacai copa chuyên cung cấp kiến thức thể thao, keonhacai tỷ lệ kèo, bóng đá, khoa học, kiến thức hằng ngày được chúng tôi cập nhật mỗi ngày mà bạn có thể tìm kiếm tại đây có nguồn bài viết: https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%B1_nghi%E1%BB%87p_di%E1%BB%85n_xu%E1%BA%A5t_c%E1%BB%A7a_Humphrey_Bogart