Wiki - KEONHACAI COPA

Hôn nhân đồng giới

Hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tínhhôn nhân của hai người cùng giới tính sinh học hoặc giới.[1] Tính đến năm 2022, hôn nhân đồng giới đã được hợp pháp hóa và công nhận ở 33 quốc gia, với gần đây nhất là México, chiếm khoảng 1,35 tỷ người (17% dân số thế giới). Tại Andorra, luật cho phép hôn nhân đồng giới sẽ có hiệu lực vào ngày 17 tháng 2 năm 2023.[2]

Quyền nhận con nuôi không nhất thiết đã được cho phép, mặc dù hầu hết các bang có hôn nhân đồng tính đều cho phép những cặp vợ chồng đó cùng nhận con nuôi. Ngược lại, 34 quốc gia (tính đến năm 2021) có định nghĩa về hôn nhân trong hiến pháp của họ ngăn cản hôn nhân giữa các cặp cùng giới, hầu hết được ban hành trong những thập kỷ gần đây như một biện pháp phòng ngừa. Một số quốc gia khác đã quy định luật Hồi giáo theo hiến pháp, thường được hiểu là cấm kết hôn giữa các cặp đồng tính. Trong sáu vấn đề trước đây và hầu hết sau này, bản thân đồng tính luyến ái được hình sự hóa. Có những ghi chép về hôn nhân giữa những người đàn ông có từ thời thế kỷ thứ nhất.[3] Trong kỷ nguyên hiện đại, chính quyền dân sự đầu tiên cố ý cấp giấy phép kết hôn cho một cặp đồng tính ở Quận Blue Earth, Minnesota, Hoa Kỳ vào năm 1971.[4]

Luật đầu tiên quy định về bình đẳng hôn nhân giữa các cặp đồng giới và khác giới đã được thông qua ở lục địa Hà Lan vào năm 2000 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 4 năm 2001.[5] Việc áp dụng luật hôn nhân một cách bình đẳng đối với các cặp đồng tính và khác giới đã thay đổi theo thẩm quyền, và đã xuất hiện thông qua sự thay đổi luật hôn nhân, các phán quyết của tòa án dựa trên các bảo đảm hiến pháp về bình đẳng, thừa nhận rằng hôn nhân các cặp cùng giới được luật hôn nhân hiện hành cho phép,[6] bằng cách bỏ phiếu phổ thông trực tiếp (thông qua trưng cầu dân ýsáng kiến). Những nhóm ủng hộ nổi bật nhất của hôn nhân đồng giới là tổ chức nhân quyềndân quyền cũng như tổ chức y tế và khoa học, trong khi những nhóm phản đối nổi bật nhất là các nhóm tôn giáo chính thống. Các cuộc thăm dò liên tục cho thấy sự ủng hộ không ngừng gia tăng đối với việc công nhận hôn nhân đồng giới ở tất cả các nền dân chủ phát triển và ở một số nền dân chủ đang phát triển.

Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng sự ổn định về tài chính, tâm lý và thể chất của những người đồng tính được nâng cao nhờ hôn nhân và con cái của phụ huynh đồng giới được hưởng lợi từ việc được nuôi dưỡng bởi các cặp đồng giới mà hôn nhân được pháp luật công nhận và được hỗ trợ bởi các tổ chức xã hội.[7] Nghiên cứu khoa học xã hội chỉ ra rằng việc không cho người đồng tính hưởng quyền được kết hôn gây kỳ thị và khiến mọi người phân biệt đối xử chống lại họ, đồng thời nghiên cứu cũng bác bỏ quan điểm cho rằng việc nền văn minh hoặc trật tự xã hội ổn định phụ thuộc vào việc giới hạn kết hôn chỉ dành cho người dị tính.[8][9] Hôn nhân đồng giới có thể cung cấp cho những người trong mối quan hệ đồng giới các dịch vụ liên quan của chính phủ và đưa ra các yêu cầu về tài chính đối với họ tương đương với yêu cầu của những người trong hôn nhân khác giới, đồng thời mang lại cho họ sự bảo vệ pháp lý như quyền thừa kế và quyền thăm bệnh.[10] Sự phản đối hôn nhân đồng tính dựa trên những tuyên bố như đồng tính luyến ái là không tự nhiên và bất bình thường, rằng trẻ em tốt hơn khi được các cặp vợ chồng khác giới nuôi dưỡng, rằng việc thừa nhận hôn nhân đồng tính vi phạm quyền tự do tôn giáo và làm suy yếu tôn giáo, rằng hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới sẽ dẫn đến hôn nhân đa thê và loạn luân được hợp pháp hóa, rằng hợp pháp hóa sẽ làm suy yếu các thể chế hôn nhân và gia đình, rằng các cặp đồng tính không thể sinh sản, và rằng sự công nhận các cặp đồng giới sẽ thúc đẩy đồng tính luyến ái trong xã hội.[11][12] Những tuyên bố này đã bị bác bỏ bởi các nghiên cứu khoa học cho thấy rằng đồng tính là một biến thể tự nhiên và bình thường trong tính dục của con người, và xu hướng tính dục không phải là một sự lựa chọn. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng con cái của các cặp đồng giới cũng giống như con của các cặp khác giới; một số nghiên cứu chỉ ra những lợi ích khi được các cặp đồng tính nuôi dưỡng.[13]

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ thay thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hai người đàn ông kết hôn, bao quanh bởi tiệc cưới, ở New Orleans, Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng 11 năm 2017

Một số tổ chức ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới — chẳng hạn như Tổ chức Hôn nhân Bình đẳng Hoa Kỳ (thành lập năm 1998), Tổ chức Tự do Kết hôn (thành lập năm 2003) và Tổ chức Người Canada vì Hôn nhân Bình đẳng—từ lâu đã sử dụng các thuật ngữ bình đẳng trong hôn nhân và hôn nhân bình đẵng để báo hiệu rằng mục tiêu của họ là hôn nhân đồng giới được công nhận bình đẳng với hôn nhân khác giới.[14][15][16][17][18][19][20] Hãng thông tấn Associated Press khuyến nghị sử dụng cụm từ hôn nhân đồng giới thay cho hôn nhân dành cho đồng tính nam và đồng tính nữ.[21]

Việc sử dụng thuật ngữ hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nhân loại học đã phải cố gắng xác định một định nghĩa về hôn nhân kết tinh được những điểm chung của cấu trúc xã hội giữa các nền văn hóa trên thế giới.[22][23] Nhiều định nghĩa được đề xuất đã bị chỉ trích vì không thừa nhận sự tồn tại của hôn nhân đồng giới ở một số nền văn hóa, bao gồm của hơn 30 dân tộc châu Phi, chẳng hạn như KikuyuNuer.[23][24][25]

Với việc một số quốc gia sửa đổi luật hôn nhân của họ để công nhận các cặp đồng tính trong thế kỷ 21, tất cả các từ điển tiếng Anh lớn đã sửa đổi định nghĩa của họ về từ kết hôn để loại bỏ các chi tiết đặc tả giới tính hoặc bổ sung bằng các định nghĩa phụ, bao gồm ngôn ngữ trung tính về giới hoặc thể hiện rõ ràng sự công nhận hôn nhân đồng giới.[26][27] Từ điển tiếng Anh Oxford đã công nhận hôn nhân đồng giới từ năm 2000.[28]

Những người phản đối hôn nhân đồng giới, những người muốn hôn nhân bị giới hạn trong việc kết đôi nam nữ, chẳng hạn như Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kytô, Giáo hội Công giáo, và Công ước Baptist Phương Nam, sử dụng thuật ngữ hôn nhân truyền thống để chỉ là hôn nhân khác giới.[29][30]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Một ý kiến liên quan đến hôn nhân đồng tính xuất hiện trong Sifra, được viết vào thế kỷ thứ 3 CN. Sách Lêvi cấm quan hệ đồng tính luyến ái, và người Hebrew được cảnh báo là không được "làm theo những việc làm của xứ Ai Cập hay những việc làm của xứ Canaan" (Lê-vi Ký 18:22, 20:13). Sifra giải thích rõ những "hành vi" không rõ ràng này là gì và chúng bao gồm hôn nhân đồng giới: "Một người đàn ông kết hôn với một người đàn ông và phụ nữ kết hôn với phụ nữ, một người đàn ông kết hôn với một người phụ nữ và con gái của cô ấy, và một người phụ nữ kết hôn với hai người đàn ông."[31]

Điều được cho là lần đề cập lịch sử đầu tiên về việc thực hiện hôn nhân đồng giới xảy ra trong thời kỳ đầu của Đế chế La Mã theo nhà sử học còn gây tranh luận John Boswell.[32][33] Những điều này thường được nhắc đến với thái độ chỉ trích hoặc châm biếm.[34]

Hoàng đế trẻ Elagabalus gọi người lái ngựa, một nô lệ tóc vàng từ Caria tên là Hierocles, là chồng của mình.[35] Ông cũng kết hôn với một vận động viên tên là Zoticus trong một buổi lễ xa hoa công khai ở Rome giữa sự hân hoan của nhân dân.[36][37][38]

Theo Craig A. Williams, một số người La Mã vào đầu thế kỷ thứ nhất rõ ràng đã tham gia vào các nghi lễ chính thức trong đó hai người đàn ông kết hôn. Những cuộc hôn nhân này được coi là không điển hình: Williams viết rằng "một cuộc hôn nhân giữa hai 'người đàn ông' à không thể tưởng tượng được; nếu hai người đàn ông kết hôn với nhau, một trong số họ phải là 'người phụ nữ.'"[39]

Hoàng đế La Mã đầu tiên kết hôn với một người đàn ông Nero, người được cho là đã kết hôn với hai người đàn ông khác trước đó.[40] Sau đó, với tư cách là một chú rể, Nero kết hôn với Sporus, một người đàn ông trẻ tuổi, để thay thế người vợ lẽ thiếu niên Poppaea Sabina anh ta đã giết,[41][42] lễ cưới diễn ra công khai với đầy đủ các nghi thức hôn lễ, sau đó Sporus buộc phải đóng giả làm người vợ lẽ mà Nero đã giết và hành động như thể họ thực sự đã kết hôn.[41] Một người bạn sau đó đã đưa "cô dâu"đi theo quy định của pháp luật. Đám cưới được thực hiện ở cả Hy Lạp và La Mã trong những buổi lễ công khai xa hoa.[43]

Conubium (Quyền kết hôn hợp pháp) chỉ tồn tại giữa một công dân Romanus và một công dân Romana (nghĩa là giữa một công dân La Mã nam và một công dân La Mã nữ), vì vậy cuộc hôn nhân giữa hai nam giới La Mã (hoặc với một nô lệ) sẽ không có địa vị pháp lý trong luật La Mã (có lẽ trừ ra ý muốn độc đoán của hoàng đế trong hai trường hợp nói trên).[44] Hơn nữa, theo Susan Treggiari, "matrimonium (từ Latin của matrimony - hôn nhân) lúc đó là một thể chế liên quan đến người mẹ, mater. Ý nghĩa ẩn trong từ này là một người đàn ông kết hôn với một người phụ nữ, trong matrimonium ducere, để anh ta có thể có con với cô ấy."[45]

Vào năm 342 sau Công nguyên, các hoàng đế Cơ đốc giáo Constantius IIConstans đã ban hành một luật trong Bộ luật Theodosian (C. Th. 9.7.3) cấm hôn nhân đồng giới ở La Mã và ra lệnh xử tử những người đã kết hôn đồng giới.[46] Giáo sư Fontaine của Khoa Kinh điển Đại học Cornell đã chỉ ra rằng không có quy định về hôn nhân đồng tính trong Luật La Mã, và văn bản từ năm 342 sau Công nguyên đã bị sửa đổi, "kết hôn với một người phụ nữ" có thể là "lên giường một cách đáng ghê tởm với một người đàn ông" như một sự lên án hành vi đồng tính luyến ái giữa những người đàn ông.[47] Boxer Codex, ghi chép năm 1590, hi lại sự bình thường và chấp nhận hôn nhân đồng giới trong các nền văn hóa bản địa của Philippines trước khi thành thuộc địa.[48]

Hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Một cặp đôi mới cưới ở Minnesota ngay sau khi hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Hoa Kỳ

Các nhà sử học khác nhau theo dõi sự khởi đầu của các phong trào hiện đại ủng hộ hôn nhân đồng giới ở khắp các nơi từ khoảng những năm 1970 đến những năm 1990. Tại Hoa Kỳ hôn nhân đồng giới đã trở thành một yêu cầu chính thức của phong trào bảo vệ quyền của người đồng tính sau cuộc Hành trình Quốc gia lần thứ hai về Quyền của Đồng tính nữ và Đồng tính nữ ở Washington vào năm 1987.[49][50]

Năm 1989, Đan Mạch trở thành quốc gia đầu tiên công nhận mối quan hệ hợp pháp cho các cặp đồng tính, hợp thức hóa quan hệ kết đôi có đăng ký, ang lại cho những người có quan hệ đồng tính "hầu hết các quyền của những người kết hôn dị tính, nhưng không có quyền nhận con nuôi hoặc giành quyền nuôi con chung đối với đứa con".[51] Năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên chính thức hóa hôn nhân đồng giới theo luật.[5] Kể từ đó,hôn nhân đồng giới cũng đã được pháp luật công nhận ở 29 những quốc gia khác, bao gồm hầu hết các nước ở châu MỹTây Âu. Tuy nhiên, sự hợp pháp hóa diễn ra cũng không đồng đều — Nam Phi là quốc gia duy nhất ở châu Phi áp dụng; Đài Loan là quốc gia duy nhất ở châu Á.[52]

Dòng thời gian[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng tóm tắt dưới đây liệt kê theo thứ tự thời gian các quốc gia có chủ quyền (các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc cộng với Đài Loan) đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. Tính đến tháng 10 năm 2022, 33 quốc gia đã hợp pháp hóa, một phần hoặc toàn bộ, với một quốc gia đang chờ xử lý.

Ngày là khi hôn nhân giữa các cặp đồng tính bắt đầu được chính thức chứng nhận.

2001Hà Lan Hà Lan (1 tháng 4)
2002
2003
2004
2005
2006Cộng hòa Nam Phi Nam Phi (30 tháng 11)
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
Đang chờ

Hôn nhân đồng giới trên khắp thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân đồng giới được cho phép và công nhận hợp pháp ở các quốc gia sau: Argentina, Úc,[a] Áo, Bỉ, Brasil, Canada, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Đan Mạch,[b] Ecuador,[c] Phần Lan, Pháp,[d] Đức, Iceland, Ireland, Luxembourg, Malta, México,[e] Hà Lan,[f] New Zealand,[g] Na Uy, Bồ Đào Nha, Slovenia, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đài Loan,[h] Vương quốc Anh,[i] Hoa Kỳ,[j]Uruguay. Andorra sẽ hợp pháp hóa vào ngày 17 tháng 2 năm 2023.

  Các cặp đôi đồng tính có thể kết hôn (chấm tròn: trường hợp cá nhân)
  Kết hợp dân sự hay quan hệ gia đình
  Pháp luật hoặc phán quyết ràng buộc của tòa án trong nước thiết lập hôn nhân đồng giới, nhưng hôn nhân chưa được cho phép
  Hôn nhân đồng giới được công nhận với đầy đủ các quyền khi được thực hiện ở một số khu vực pháp lý khác
  Sự công nhận pháp lý hạn chế (đã đăng ký chung sống, giám hộ hợp pháp)
  Chứng nhận địa phương mà không có hiệu lực pháp lý
  Sư công nhận hôn nhân được giới hạn ở một số khu vực pháp lý khác (quyền cư trú cho vợ/chồng)
  Quốc gia phải tuân theo phán quyết của tòa án quốc tế về việc công nhận hôn nhân đồng giới
  Hôn nhân đồng giới không được công nhận

Hôn nhân đồng giới đang được xem xét bởi các chính phủ hoặc tòa án ở Cộng hòa Séc,[55] Hy Lạp,[56] Honduras,[57] Ấn Độ,[58] Liechtenstein,[59] Navajo Nation,[60] Peru,[61] Thái LanVenezuela.[62]

Kết hợp dân sự đang được xem xét ở những quốc gia, bao gồm Thái Lan[63]Serbia từ năm 2021,[64] LatviaLitva, UkrainaPhilippines từ năm 2022.[65][66][67]

Vào ngày 12 Tháng Ba 2015, Nghị viện châu Âu đã thông qua một nghị quyết không ràng buộc khuyến khích các thể chế và thành viên trong châu Âu tuyên bố "[suy nghĩ] về việc công nhận hôn nhân đồng tính hoặc kết hợp dân sự đồng tính như một vấn đề chính trị, xã hội, con người và quyền công dân".[68][69][70] Năm 2018, Tòa án Nhân quyền liên Mỹ ra phán quyết rằng tất cả các nước ký hiệp ước phải cho phép hôn nhân đồng giới.

Các quốc gia đáng chú ý:

  • Đan Mạch Đan Mạch: Quốc gia đầu tiên cung cấp kết hợp dân sự. (1989)[71]
  • Hà Lan Hà Lan: Quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. (2001)[72]
  • Canada Canada: Quốc gia Bắc Mỹ đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. (2005)[73]
  • Cộng hòa Nam Phi Nam Phi: Quốc gia châu Phi đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. (2005)
  • México Mexico: Tài phán địa phương đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Mỹ Latinh (2010)
  • Argentina Argentina: Quốc gia Nam Mỹ đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới (2010)
  • Brasil Brasil: Quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới thông qua phán quyết của tòa án (2013)
  • New Zealand New Zealand: Quốc gia châu Đại Dương đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới (2013)
  • Cộng hòa Ireland Ireland: Quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới thông qua trưng cầu dân ý (2015)
  • Đài Loan Đài Loan: Quốc gia châu Á đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới (2019)
  • Cuba Cuba: Nhà nước độc đảng đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới (2022)

Để đáp lại sự lan rộng quốc tế của hôn nhân đồng giới, nhiều quốc gia ban hành lệnh cấm dựa trên hiến pháp phòng ngừa, gần đây nhất là Georgia vào năm 2018 và Nga vào năm 2020. Ở những quốc gia khác, hiến pháp đã được thông qua trong đó mặc dù có từ ngữ chỉ rõ rằng hôn nhân là giữa nam và nữ, đặc biệt là với các hiến pháp cũ, chúng không có từ ngữ chỉ rõ với ý định cấm hôn nhân đồng giới.[cần dẫn nguồn]

  Hôn nhân đồng giới bị cấm bởi hiến pháp thế tục
  Hôn nhân đồng giới bị cấm theo luật hoặc đạo đức Hồi giáo được hiến pháp ủy quyền
  Hôn nhân đồng giới bị cấm đối với người theo đạo Hồi giáo
  Không có lệnh cấm hiến pháp

Phán quyết của tòa án quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa Án Nhân Quyền châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, Tòa án Nhân quyền châu Âu (ECHR) đã ra phán quyết trong vụ Schalk and Kopf v Austria, một vụ án liên quan đến một cặp đồng tính người Áo bị từ chối quyền được kết hôn.[74] Bằng một cuộc bỏ phiếu với số phiếu 4 hơn 3, tòa án cho thấy rằng nhân quyền của họ không bị vi phạm.[75] Tòa án cũng tuyên bố rằng kết hợp đồng giới không được bảo vệ dưới điều luật 12 của ECHR ("Quyền để kết hôn"), trong đó bảo vệ duy nhất quyền kết hôn của các cặp khác giới không phân biệt giới tính của các bên là do bẩm sinh hay do chuyển đổi giới tính), nhưng được bảo vệ dưới điều luật 8 của ECHR ("Quyền được tôn trọng đời sống riêng tư và gia đình") và điều luật 14 ("Cấm phân biệt đối xử"). Hơn nữa, theo Công ước Nhân quyền Châu Âu, các quốc gia không có nghĩa vụ cho phép hôn nhân đồng tính:[76]

Tòa án thừa nhận rằng một số Quốc gia ký hiệp ước đã mở rộng hôn nhân cho các cặp đồng giới, nhưng cũng tiếp tục khẳng định rằng điều này phản ánh tầm nhìn của các quốc gia này về vai trò của hôn nhân trong xã hội của quốc giá đó và không xuất phát từ cách giải thích quyền cơ bản được các nước ký kết quy định trong Công ước năm 1950. Tòa án kết luận rằng việc này nằm trong biên độ đánh giá cao (margin of appreciation) của một nước để điều chỉnh những tác động của việc thay đổi giới tính đối với các cuộc hôn nhân có từ trước.

— Tòa án châu Âu của Nhân quyền, Schalk and Kopf v Austria[74]

Thẩm phán người Anh, Nicolas Bratza, khi đó là người đứng đầu Tòa án Nhân quyền châu Âu, đã có một bài phát biểu vào năm 2012 báo hiệu rằng tòa án đã sẵn sàng tuyên bố hôn nhân đồng giới là một "quyền con người", ngay khi có đủ các quốc gia vào cuộc.[77][78][79]

Điều 12 của Công ước châu Âu về Nhân quyền cho rằng: "Nam và nữ trong độ tuổi kết hôn có quyền kết hôn và thành lập gia đình, theo luật quốc gia quản lý việc thực hiện quyền này",[80] không hạn chế việc kết hôn đối với những người có quan hệ khác giới. Tuy nhiên, ECHR tuyên bố trong Schalk and Kopf v Austria ằng điều khoản này nhằm giới hạn hôn nhân trong các mối quan hệ khác giới, vì nó sử dụng thuật ngữ "nam và nữ" thay vì "tất cả mọi người".[74]

Liên minh châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 5 tháng 6 năm 2018, Tòa án Công lý châu Âu đã ra phán quyết, trong một trường hợp từ Romania, rằng, trong các điều kiện cụ thể của cặp đôi được đề cập, các cặp đồng tính đã kết hôn có quyền cư trú giống như các cặp vợ chồng khác ở một quốc gia EU, thậm chí nếu quốc gia đó không cho phép hoặc không công nhận hôn nhân đồng giới.[81][82] Tuy nhiên, phán quyết đã không được thực hiện ở Romania và vào ngày 14 tháng 9 năm 2021, Nghị viện châu Âu đã thông qua một nghị quyết kêu gọi Ủy ban châu Âu đảm bảo rằng phán quyết được tôn trọng trên toàn Liên minh Châu Âu.[83][84]

Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Alexandra Chávez và Michelle Avilés, cặp đôi đồng tính đầu tiên kết hôn ở Ecuador

Vào ngày 8 tháng 1 năm 2018, Tòa án Nhân quyền liên Mỹ (IACHR) đã ra phán quyết rằng Công ước châu Mỹ về Nhân quyền bắt buộc và yêu cầu hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. Phán quyết mang tính bước ngoặt hoàn toàn ràng buộc đối với Costa Rica và đặt ra tiền lệ ràng buộc ở các nước ký kết khác. Tòa khuyến nghị các chính phủ ban hành các sắc lệnh tạm thời hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới cho đến khi có luật mới. Phán quyết áp dụng cho Barbados, Bolivia, Cộng hòa Dominican, El Salvador, Guatemala, Haiti, Honduras, Nicaragua, Panama, Paraguay, PeruSuriname.

Tòa án nói rằng các chính phủ "phải công nhận và đảm bảo tất cả các quyền có được từ mối quan hệ gia đình giữa những người cùng giới". Họ cũng nói rằng một quy định pháp lý riêng biệt được thiết lập (chẳng hạn như kết hợp dân sự) là không thể chấp nhận và phân biệt đối xử thay vì hôn nhân đồng giới. Tòa yêu cầu các chính phủ "đảm bảo quyền tiếp cận tất cả các hình thức hệ thống pháp luật trong nước hiện có, bao gồm quyền kết hôn, để đảm bảo bảo vệ tất cả các quyền của các gia đình được hình thành bởi các cặp đồng tính mà không bị phân biệt đối xử". Nhận thức được sự khó khăn trong việc thông qua luật như vậy ở các quốc gia phản đối mạnh mẽ hôn nhân đồng giới, tòa khuyến nghị các chính phủ thông qua các sắc lệnh tạm thời cho đến khi có luật mới.[85]

Phán quyết này đã trực tiếp dẫn đến việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Costa Rica và Ecuador. Sau phán quyết, các vụ kiện liên quan đến hôn nhân đồng giới cũng đã được nộp ở Bolivia, Honduras,[86] Panama,[87] Paraguay (để công nhận các cuộc hôn nhân được thực hiện ở nước ngoài),[88] và Peru,[89] tất cả đều thuộc thẩm quyền của IACHR

Các tổ chức quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các điều khoản tuyển dụng nhân viên của các tổ chức quốc tế (không phải thương mại) trong hầu hết các trường hợp không bị áp đặt bởi luật pháp của quốc gia nơi họ đặt trụ sở. Các thỏa thuận với nước sở tại bảo vệ sự công bằng của các tổ chức này.

Mặc dù có tính độc lập tương đối, nhưng rất ít tổ chức công nhận quan hệ hôn nhân đồng giới mà không có điều kiện. Các cơ quan của Liên Hợp Quốc công nhận hôn nhân đồng giới nếu quốc gia nhập quốc tịch của nhân viên được đề cập công nhận hôn nhân.[90] Trong một số trường hợp, các tổ chức này cung cấp một số lựa chọn hạn chế các lợi ích thường được cung cấp cho các cặp kết hôn đa giới cho bạn đời của nhân viên của họ, nhưng ngay cả những cá nhân đã tham gia vào một liên minh dân sự đa giới tính ở nước họ. không được đảm bảo sự công nhận đầy đủ của công đoàn này trong tất cả các tổ chức. Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới công nhận bạn đời đồng giới.[91]

Các hình thức công nhận khác[sửa | sửa mã nguồn]

Kết hợp dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người ủng hộ, chẳng hạn như những người biểu tình vào tháng 11 năm 2008 này tại một cuộc biểu tình ở Thành phố New York chống lại Dự luật 8 California, bác bỏ khái niệm về các kết hợp dân sự, cho rằng chúng kém hơn sự công nhận của pháp luật đối với hôn nhân đồng giới.[92]

Các tình trạng hôn nhân khác nhau—kết hợp dân sự, chung sống dân sự, chung sống thành gia đình, chung sống có đăng ký, chung sống không đăng ký, và cùng cư trú mà không đăng ký— đem lại những quyền lợi hôn nhân riêng biệt. Kể từ ngày 27 tháng 11, 2022, các nước có các hình thức công nhận hợp pháp cấp quốc gia khác, bên cạnh hôn nhân, gồm có: Andorra, Croatia, Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hy Lạp, Hungary, Israel, Ý, LiechtensteinSan Marino.[93][94] Các quyền lợi dành cho hôn nhân đồng giới và kết hợp dân sự ở Ba LanSlovakia. Bang Veracruz của Mexico và Aruba (một trong bốn quốc gia cấu thành nên Vương quốc Hà Lan)—khu vực, vùng lãnh thổ thấp hơn cấp quốc gia—cho phép các cặp đôi đồng giới được kết hợp dân sự hoặc chung sống dân sự, nhưng chỉ các cặp đôi khác giới mới được phép kết hôn. Ngoài ra, nhiều thành phố thuộc CampuchiaNhật Bản trao cho các cặp đôi đồng giới một số quyền hạn ở các mức độ khác nhau, bao gồm quyền được thăm nom tại bệnh viện, và các quyền khác.

Thêm nữa, 16 quốc gia đã hợp pháp hóa kết hôn đồng giới vẫn có các hình thức công nhận pháp lý khác dành cho các cặp đôi đồng giới; các hình thức công nhận này cũng đồng thời dành cho các cặp đôi dị tính: Argentina, Úc, Áo, Bỉ, Brasil, Chile, Colombia, Ecuador, Pháp, Luxembourg, Malta, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nam Phi, Tây Ban Nha, Vương quốc AnhUruguay.[95][96][97][98]

Một số bang ở Hoa Kỳ (Arizona[note 1], California, Colorado, Hawaii, Illinois, New Jersey, NevadaOregon) và Canada.[99][100]

Hôn nhân đồng giới không tình dục[sửa | sửa mã nguồn]

Kenya[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân đồng giới nữ diễn ra tại dân tộc Gikuyu, Nandi, Kamba, Kipsigis, và cả các cộng đồng láng giềng. Khoảng 5-10% phụ nữ kết hôn đồng giới. Tuy nhiên, đây không phải mối quan hệ đồng tình, mà thực chất là cách giúp cho những gia đình không có con trai có thể giữ lại sản nghiệp trong gia đình.[101]

Nigeria[sửa | sửa mã nguồn]

Ở dân tộc Igbo và có thể ở những dân tộc khác tại miền nam Nigeria, tồn tại một số cuộc hôn nhân giữa phụ nữ được xem là phù hợp. Ví dụ, khi một người phụ nữ góa chồng không có con, cá nhân đó có thể lấy vợ để tiếp nối sản nghiệp và dòng dõi gia đình.[102]

Các nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội Nhân chủng học Hoa Kỳ phát biểu vào ngày 26 tháng 2 năm 2004:

Các kết quả từ nghiên cứu nhân chủng học trong hơn một thế kỷ qua về các hộ dân cư, mối quan hệ họ hàng, gia đình từ các nền văn hóa qua các mốc thời gian không hề củng cố luận điểm cho rằng nền văn minh lẫn trật tự xã hội mang tính sống còn đều phụ thuộc vào hôn nhân—được quy định chỉ dành cho các cặp đôi dị tính. Trái lại, nghiên cứu về nhân chủng học minh chứng cho kết luận rằng tập hợp gồm nhiều dạng gia đình, bao gồm cả những gia đình được xây dựng từ các mối quan hệ đồng giới, có thể góp phần kiến thiết nên một xã hội bền vững và nhân văn.[9]

Các phát hiện từ nghiên cứu trong giai đoạn 1998 đến 2015 của Đại học Virginia, Đại học bang Michigan, Đại học bang Michigan, Đại học Amsterdam, Viện Tâm thần học bang New York, Đại học Stanford, University of California-San Francisco, Đại học California tại Los Angeles, Đại học Tutfts, Trung tâm Y tế Thành phố Boston, Ủy ban Chăm sóc Tâm lý xã hội Trẻ em và Sức khỏe Gia đình, và các cá nhân/tổ chức nghiên cứu độc lập cũng ủng hộ quan điểm trên.[103][mơ hồ]

Thanh thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Mỹ, một nghiên cứu về dữ liệu cấp quốc gia trong giai đoạn tháng 1 năm 1999 đến tháng 12 năm 2015 đã tiết lộ tỉ lệ nỗ lực tự sát ở học sinh khối 9-12 giảm 7% và tỉ lệ nỗ lực tự sát ở học sinh trung học khối 9-12 thuộc nhóm xu hướng tính dục thiểu số giảm 14% tại các bang cho phép các cặp đôi đồng giới kết hôn. Nhờ vậy, mỗi năm, Mỹ giảm được 134,000 ca cố tự sát. Các nhà nghiên cứu sử dụng bước tiến chậm rãi của tiến trình thiết lập hôn nhân đồng giới tại Mỹ (từ 1 bang vào năm 2004 mở rộng đến toàn bộ 50 bang vào 2015) để so sánh với tỉ lệ cố gắng tự sát ở giới trẻ tại từng bang trong suốt thời gian được nghiên cứu. Khi hôn nhân đồng giới được chấp thuận tại một bang cụ thể, sự suy giảm trong tỉ lệ nỗ lực tự sát ở người trẻ tại bang đó trở nên bền vững. Tỉ lệ thanh thiếu niên cố gắng tự sát ở một tiêu bang chỉ được cải thiện khi bang đó công nhận hôn nhân đồng giới.[104][105] Người đứng đầu của một nghiên cứu đã phát biểut "các điều luật có tác động mạnh mẽ và tích cực nhất đến cá nhân đồng tính đã trưởng thành có thể khiến cho trẻ em và thanh thiếu niên đồng tính cảm thấy có niềm tin vào tương lai hơn".[106][107][108]

Nuôi dạy con[sửa | sửa mã nguồn]

Cặp đôi đồng tính nữ và con của họ

Các tổ chức chuyên nghiệp dành cho các nhà tâm lý học đã kết luận rằng phúc lợi từ việc các phong tục, quy tắc xã hội công nhận và ủng hộ mối quan hệ của phụ huynh, ví dụ như hôn nhân dân sự—hôn nhân được chủ trì, ghi nhận, và công nhận bởi viên chức chính phủ, sẽ mang lại lợi ích cho trẻ. Ví dụ, Hiệp hội tâm lý học Canadan (CPA) đã phát biểu vào năm 2006 "hôn nhân giúp nâng cao các giá trị về mặt tài chính, tâm lý, và thể chất của phụ huynh, và trẻ em nhận hưởng lợi ích từ việc được nuôi dưỡng bởi hai vị phụ huynh trong cuộc hôn nhân được công nhận hợp pháp."[109] CPA cũng cho rằng căng thẳng mà các bậc phụ huynh đồng tính và con của họ gặp phải rất có thể là kết quả của cách xã hội đối xử với những gia đình này, hơn là từ sự thiếu hụt sức khỏe thể chất của các phụ huynh.[109]

Năm 2006, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ đã đưa ra kết luận trong một bài phân tích được xuất bản trong Tập san Nhi khoa:

Có đủ bằng chứng về việc sự phát triển của trẻ em được nuôi dưỡng bởi các bậc phụ huynh đồng giới hoàn toàn tương đồng với những trẻ em có phụ huynh dị tính. Nghiên cứu trong hơn 25 năm cũng minh chứng rằng không hề tồn tại mối liên kết giữa xu hướng tính dục của phụ huynh và bất kỳ sự thay đổi nào về cảm xúc, tâm lý, và hành vi của trẻ… Những quyền lợi, phúc lợi, và sự bảo vệ của hôn nhân dân sự có thể giúp cho các gia đình này bền vững hơn

Sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ đã phát biểu vào năm 2004: "Việc bác bỏ quyền được được kết hôn của các các cặp đôi đồng giới có thể đặc biệt làm hại đến những cá nhân cùng chịu đựng sự phân biệt đối xử dựa trên tuổi, chủng tộc, sắc tộc, khuyết tật, giới và bản dạng giới, tôn giáo, địa vị xã hội-kinh tế, và nhiều thứ khác." Hơn nữa, có thể khẳng định rằng các cặp đôi đồng giới—chỉ được công nhận dưới hình thức kết hợp dân sự, thay vì hôn nhân—, "bị tước đi cơ hội được bình đẳng nhận hưởng các phúc lợi, quyền lợi, và đặc quyền được luật pháp liên bang quy định dành cho các cặp đôi đã kết hôn hợp pháp", và thực trạng này hình thành các tác động bất lợi đến chất lượng cuộc sống của các cặp đôi đồng giới.[110]

Tính đến năm 2006, dữ liệu của các nghiên cứu về tâm lý học và các ngành khoa học xã hội hiện thời khi so sánh hôn nhân đồng giới và với hôn nhân khác giới đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt giữa các mối quan hệ đồng giới và khác giới về các khía cạnh tâm lý thiết yếu; vì vậy, xu hướng tính dục của một bậc phụ huynh không liên quan đến khả năng tạo dựng một môi trường gia đình lành mạnh và phù hợp cho việc nuôi dưỡng; và hôn nhân đồng giới cũng dành tặng các phúc lợi lớn lao về tâm lý, xã hội, và sức khỏe. Các cặp phụ huynh đồng giới, cùng sự nghiệp và con cái của họ, có thể nhận hưởng được lợi ích theo nhiều cách khác nhau từ việc gia đình họ được công nhận hợp pháp, và thể hiện sự công nhận hợp pháp thông qua hôn nhân trao tặng các cá nhân nhiều phúc lợi hơn là hình thức kết hợp dân sự hay chung sống thành gia đình.[111][112]

Vào năm 2009, hai nhà kinh tế học công tác tại trường Đại học Emory đã liên hệ một dự luật cấm hôn nhân đồng giới của bang với sự gia tăng tỉ lệ nhiễm HIV.[113][114] Nghiên cứu đã liên kết dự luật cấm hôn nhân đồng giới của một bang với hiện tượng tỉ lệ nhiễm HIV mỗi năm tăng lên tại bang đó—cứ 100,000 người sẽ có khoảng 4 ca nhiễm.[115] Vào năm 2010, nghiên cứu của Trường Sức khỏe Cộng đồng Mailman thuộc Đại học Columbia đã xem xét các ảnh hưởng của sự phân biệt đối xử theo thể chế (sự đối xử bất công đối với một nhóm người cụ thể; sự phân biệt này bắt nguồn từ các hệ thống xã hội và hình thành trong một tổ chức) lên sức khỏe tâm thần của các cá nhân đồng tính nam, đồng tính nữ, và song tính (LGB) và phát hiện ra sự gia tăng các hội chứng tâm thần, bao gồm hiện tượng số ca mắc rối loạn lo âu, atăng hơn gấp 2 lần,  ở các cư dân là LGB sinh sống tại các bang đã ban hành dự luật cấm kết hôn đồng giới.Theo tác giả, nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc loại bỏ hoàn toàn các dạng phân biệt đối xử theo thể chế, gồm những tác nhân gây nên sự chênh lệch về sức khỏe tâm lý và chất lượng cuộc sống của các nhân thuộc LGB. Sự phân biệt theo theo thể chế được đặc trưng bởi các điều kiện về tầng lớp xã hội; các điều kiện này đã hạn chế cơ hội và quyền sử dụng các tài nguyên, vật chất của các nhóm có hoàn cảnh khó khăn.[116][117]

Các vấn đề liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Khi một số ít xã hội đã công nhận sự kết hợp đồng giới là hôn nhân hợp pháp, ghi chép về lịch sử và nhân chủng học đã tiết lộ một loạt nhiều phản ứng về sự kết hợp đồng giới—tán dương, hoàn toàn chấp nhận và hòa hợp, nhân nhượng và cảm thông, thờ ơ, ngăn cấm và kỳ thị, và cả hành hạ cũng như tiêu di.[cần dẫn nguồn] Những người phản đối hôn nhân đồng giới cho rằng hôn nhân đồng giới có lợi cho các cặp đôi đồng giới và cả con cái của họ,[118] nhưng đồng thời hôn nhân đồng giới hạ thấp quyền được nuôi dưỡng bởi bố mẹ sinh học của trẻ.[119] Một số người ủng hộ hôn nhân đồng giới có quan điểm rằng chính phủ không nên can thiệp và kiểm soát các mối quan hệ cá nhân,[120] một số cá nhân khác tin hôn nhân đồng giới sẽ đem lại lợi ích về xã hội cho các cặp đôi đồng giới.[121] Tranh biện về hôn nhân đồng giới bao gồm các thảo luận từ quan điểm cá nhân cũng như các tranh cãi dựa trên quy tắc của đa số, tín ngưỡng, tranh luận về kinh tế, lo ngại về sức khỏe, và nhiều vấn đề khács.[cần dẫn nguồn]

Nuôi dạy con[sửa | sửa mã nguồn]

Cặp đôi đồng tính nam và con của họ

Các ấn bản khoa học đã chỉ ra rằng hôn nhân giúp nâng cao các giá trị về mặt tài chính, tâm lý, và thể chất của phụ huynh, và trẻ em nhận hưởng lợi ích từ việc được nuôi dưỡng bởi hai vị phụ huynh trong cuộc hôn nhân được công nhận hợp pháp (sự kết hợp khác giới lẫn đồng giới). Vì vậy, các hiệp hội khoa học chuyên sâu đã đấu tranh để hôn nhân đồng giới được công nhận hợp pháp do điều này sẽ có lợi cho con của các cặp phụ huynh hoặc người giám hộ đồng giới.[122][123][124][125][126]

Nhìn chung, nghiên cứu khoa học nhất quán với luận điểm rằng các bậc phụ huynh đồng tính cũng phù hợp và có khả năng như các phụ huynh dị tính, và con của họ cũng có sức khỏe tâm lý tốt, cũng như đủ năng lực để hành xử và xử lý các vấn đề một cách hợp lý, tương tự với trẻ em được nuôi dưỡng bởi phụ huynh dị tính.[126][127][128][129] Theo các bài phê bình về các ấn bản khoa học, không tồn tại các bằng chứng chống lại quan điểm trên.[111][130][131][132]

Nhận con nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tình trạng hợp pháp của việc nhận con nuôi của các cặp đồng tính trên khắp thế giới:
  Cho phép nhận con nuôi chung1
  Cho phép nhận con nuôi của cha mẹ thứ hai (con riêng)2
  Không có luật nào cho phép các cặp đồng giới nhận con nuôi và không có hôn nhân đồng giới
  Có hôn nhân đồng giới nhưng các cặp đồng giới chưa được cho phép nhận con nuôi

Tất cả các quốc gia cho phép hôn nhân cùng giới sẽ đồng thời cho phép các cặp đôi cùng giới được nhận con nuôi chung ngoại trừ Ecuador, Đài Loan và một phần ba bang ở Mexico; ở Đài Loan, chỉ cho phép nhận nuôi con riêng, ở các quốc gia khác, không cho phép nhận con nuôi, mặc dù những hạn chế như vậy đã bị phán quyết là vi hiến ở Mexico. Ngoài ra, tuy AndorraIsrael, không công nhận hôn nhân đồng giới nhưng vẫn cho phép các cặp đôi đồng giới không thể kết hôn được cùng nhận con nuôi. Một số tiểu bang bổ sung không công nhận hôn nhân đồng tính cho phép các cặp vợ chồng trong kết hợp dân sự nhận nuôi con riêng: Croatia, Estonia, Ý (xem xét từng trường hợp) và Slovenia.[133]

Kể từ năm 2010, hơn 16,000 cặp đôi đồng giới đã nhận nuôi khoảng 22,000 trẻ em tại Mỹ,[134] chiếm 4% trên tổng số trẻ được nhận nuôi.[135]

Mang thai hộ và thụ tinh trong ống nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Một người đàn ông đồng tính hay song tính có thể lựa chọn phương thức mang thai hộ, tại đó một người phụ nữ sẽ mang thai đứa trẻ thay cho một cá nhân khác thông qua thụ tinh nhân tạo hoặc được cấy noãn đã được thụ tinh của một người phụ nữ khác và mang bào thai đến khi sinh. Một người phụ nữ đồng tính hay song tính có thể sử dụng biện pháp thụ tinh nhân tạo.[136][137] Liệu các biện pháp này có hợp pháp hay không vẫn là một chủ đề gây tranh cãi ở nhiều khu vực thuộc quyền tài pháp.[138]

Người chuyển giới và người liên giới tính[sửa | sửa mã nguồn]

Tình trạng pháp lý của hôn nhân đồng giới có thể có ý nghĩa đối với hôn nhân của các cặp vợ chồng trong đó một hoặc cả hai bên là người chuyển giới, tùy thuộc vào cách xác định giới tính trong phạm vi quyền hạn. Các cá nhân chuyển giới và liên giới tính có thể bị cấm kết hôn với đối tác "khác" hoặc được phép kết hôn với đối tác "cùng" giới tính tùy vào sự khác biệt pháp lý.[cần dẫn nguồn] Trong bất kỳ phạm vi quyền hạn pháp lý nào mà hôn nhân được xác nhận mà không có sự phân biệt về yêu cầu nam nữ, thì những phức tạp này không xảy ra. Ngoài ra, một số phạm vi quyền hạn pháp lý công nhận sự thay đổi giới hợp pháp và chính thức, điều này sẽ cho phép một người chuyển giới nam hoặc nữ kết hôn hợp pháp theo bản dạng giới phù hợp.[139]

Tình trạng pháp lý của hôn nhân đồng giới có thể có ý nghĩa đối với hôn nhân của các cặp vợ chồng trong đó một hoặc cả hai bên là người chuyển giới, tùy thuộc vào cách xác định giới tính trong phạm vi quyền hạn. Các cá nhân chuyển giới và liên giới tính có thể bị cấm kết hôn với đối tác "khác" hoặc được phép kết hôn với đối tác "cùng" giới tính tùy vào sự khác biệt pháp lý.[cần dẫn nguồn] Trong bất kỳ phạm vi quyền hạn pháp lý nào mà hôn nhân được xác nhận mà không có sự phân biệt về yêu cầu nam nữ, thì những phức tạp này không xảy ra. Ngoài ra, một số phạm vi quyền hạn pháp lý công nhận sự thay đổi giới hợp pháp và chính thức, điều này sẽ cho phép một người chuyển giới nam hoặc nữ kết hôn hợp pháp theo bản dạng giới phù hợp.[139]

Ly hôn[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hoa Kỳ trước vụ kiện của Obergefell v. Hodges, các cặp đôi đồng giới chỉ có thể ly hôn ở các khu vực pháp lý công nhận hôn nhân đồng giới, với một số ngoại lệ.[140]

Tư pháp và lập pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Có những lập trường khác nhau về cách thức mà hôn nhân đồng giới đã được đưa vào phạm vị quyền hạn dân chủ. Quan điểm "quy tắc số đông" ho rằng hôn nhân đồng giới là hợp lệ, hoặc không có hiệu lực và bất hợp pháp, dựa trên việc nó đã được đa số cử tri hoặc đại diện được bầu chấp nhận hay chưa.[141]

Ngược lại, quan điểm về quyền công dân cho rằng thể chế này có thể được tạo ra một cách hợp lệ thông qua phán quyết của một cơ quan tư pháp công bằng xem xét kỹ lưỡng việc điều tra và nhận thấy rằng quyền kết hôn không phân biệt giới tính của những người tham gia được đảm bảo theo luật dân quyền của các cơ quan tài phán.[142]

Bạo lực gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm 2013, CDC công bố kết quả của một nghiên cứu năm 2010 và thừa nhận rằng "ít người được biết về sự phổ biến về bạo lực tâm lý, bạo lực tình dục giữa đồng tính nữ, đồng tính, những người đàn ông và phụ nữ lưỡng tính". Báo cáo cho thấy tỷ lệ phải chịu bạo lực gia đình trong cuộc sống của các nhóm như sau: 46% đối với đồng tính nữ và 43% đối với phụ nữ dị tính, 40% ở nam giới đồng tính và 21% so với nam giới dị tính.[143] CDC nêu số liệu cụ thể như sau[144]:

  • 44% phụ nữ đồng tính, so với 35% phụ nữ dị tính trải qua hiếp dâm, bạo hành thể xác và/hoặc rình rập bởi một bạn tình trong cuộc đời của họ.
  • 26% đàn ông đồng tính so với 29% đàn ông dị tính đã trải qua hiếp dâm, bạo hành thể xác và/hoặc rình rập bởi một đối tác bởi một bạn tình trong cuộc đời của họ.

Waldner-Haugrud và Vaden Gratch báo cáo rằng 50% đồng tính nữ từng bị lạm dụng tình dục bởi bạn tình đồng tính mà họ cùng chung sống[145] Lạm dụng tâm lý được báo cáo đã xảy ra với khoảng 24% đến 90% của đồng tính nữ[146] Trong cuốn sách về Bạo lực gia đình trong gia đình đồng tính, Các tiến sĩ Island và Letellier thông báo rằng "tỷ lệ bạo lực gia đình trong những người đàn ông đồng tính cao gần gấp đôi so với người dị tính."[147]

Các cuộc khảo sát quốc gia về bạo lực gia đình tại Mỹ cho thấy: 21,5% đàn ông và 35,4% phụ nữ chung sống đồng tính đã từng trải qua bạo lực thể chất bởi bạn tình đồng tính mà họ cùng chung sống, so với 7,1% nam giới và 20,4% phụ nữ chỉ chung sống khác giới[148]

Một báo cáo tổng quan đã được công bố ngày 4/9/2014 trên tờ Journal of Sex & Family Therapy. Tác giả đầu tiên là tiến sĩ tâm lý học Colleen Stiles-Shields. Bạo lực gia đình xảy ra ít nhất là thường xuyên, và thậm chí là có khả năng còn nhiều hơn như vậy, giữa các cặp vợ chồng đồng tính so với các cặp vợ chồng khác giới, theo đánh giá của các nhà khoa Northwestern Medicine. Các nghiên cứu trước, khi phân tích với nhau, chỉ ra rằng bạo lực gia đình ảnh hưởng đến 25-75% người đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính. Tuy nhiên, việc thiếu dữ liệu và báo cáo của việc bạo hành khiến việc vẽ ra một bức tranh đầy đủ là khó khăn, nó cho thấy tỷ lệ bạo hành còn cao hơn[149].

Theo báo cáo tại Úc, Bạo lực gia đình đã trở thành một "đại dịch thầm lặng" trong cộng đồng đồng tính nam và đồng tính nữ dù đã được tăng cường giám sát, theo Hội đồng AIDS của NSW. Khoảng 1/3 số cặp vợ chồng đồng tính nữ, đồng tính nam lưỡng tính, chuyển giới và song tính đã trải qua bạo lực gia đình[150]

Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng 83% người đồng tính cho biết họ đã bị lạm dụng tâm lý bởi bạn tình đồng giới[151] Một nghiên cứu trên Tạp chí Interpersonal đã kiểm tra xung đột và bạo lực trong quan hệ đồng tính. Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng 90% số cặp đồng tính nữ được khảo sát đã bị lăng mạ bằng lời nói từ các bạn tình của họ trong năm trước đó, trong khi 31% phải trải qua bạo hành thân thể[152]

Tạp chí Nghiên cứu Dịch vụ Xã hội báo cáo rằng: cuộc khảo sát của 1.099 phụ nữ đồng tính cho thấy khoảng hơn 50% số đồng tính nữ cho biết rằng họ đã bị lạm dụng bởi bạn tình chung sống với họ, các hình thức thường xuyên nhất của sự lạm dụng là bằng lời nói/cảm xúc/lạm dụng tâm lý và lạm dụng thân xác-tâm lý kết hợp"[153] Một nghiên cứu về các cặp vợ chồng đồng tính nữ trong Sổ tay Phát triển gia đình và Can thiệp chỉ ra rằng 54 % người đồng tính đã chịu bạo hành gia đình khoảng 10 lần hoặc hơn, 74% đã trải qua 6 lần hoặc nhiều sự cố, và 71% nói rằng tình trạng bạo hành đang tồi tệ hơn theo thời gian[154]

Về nguyên nhân, người đồng tính thực hiện bạo hành đối với bạn tình của mình để đạt được và duy trì sự kiểm soát[155]. Một động cơ khác là để để khỏa lấp cảm giác mất mát và bị bỏ rơi. Vì vậy, nhiều vụ bạo hành xảy ra trong quá trình rạn nứt quan hệ. Một số người đồng tính khác thì thực hiện bạo hành do bị ảnh hưởng bởi việc lớn lên trong các gia đình thường xuyên xảy ra bạo hành thể chất, tâm lý hoặc tình dục[156]

Tính bền vững của mối quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một nghiên cứu năm 2014, Đại học Mở của Anh đã khảo sát 5.000 người để tìm hiểu về tình hình sống chung của các cặp đôi hiện đại và phương thức giữ gìn mối quan hệ. Theo đó, các cặp đôi đồng tính hầu hết đều có mối quan hệ tình cảm hạnh phúc hơn các cặp đôi dị tính. Tuy nhiên, họ lại ít khi bày tỏ những cử chỉ thân mật ở nơi công cộng và ngại công khai mối quan hệ. Tiến sĩ Jacqui Gibb cho biết: "Các cặp đôi đồng tính tham gia luôn có suy nghĩ tích cực và hạnh phúc với mối quan hệ của họ".[157][158][159][160]

Tuy nhiên, về bạo lực gia đình, khảo sát được tiến hành bởi Bộ Tư pháp Mỹ xác nhận rằng người đồng tính và các mối quan hệ đồng tính nữ có một tỷ lệ lớn hơn của bạo lực gia đình so với các mối quan hệ khác giới. Trong cuốn sách về bạo lực gia đình trong những cặp đồng tính nam, Island và Letellier khẳng định rằng "bạo lực gia đình trong số những người đàn ông đồng tính cao gần gấp đôi so với nam giới dị tính." Khảo sát của Trung tâm quốc gia chống bạo lưc phụ nữ, được tài trợ bởi Viện Tư pháp, cho thấy rằng "chung sống đồng tính có mức bạo lực với bạn tình cao hơn đáng kể so với chung sống khác giới. 39% số cuộc chung sống đồng tính nữ đã xảy ra hãm hiếp, hành hung thể chất, so với 21,7% chung sống khác giới. Đối với đàn ông, các con số tương đương là 23,1% và 7,4%"[161]

Về tính bền vững, Khảo sát năm 2004 ở Na UyThụy Điển đối với các cặp đồng tính đã đăng ký kết hợp dân sự cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường.[162] Đại học Chicago và nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".[163]

Một nghiên cứu về đồng tính namHà Lan được công bố trong tạp chí AIDS phát hiện ra rằng "thời gian có quan hệ ổn định" với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác tình dục mỗi năm[164] Điều tra năm 2004 ở Mỹ về lối sống của 7862 người đồng tính cho thấy: chỉ có 15% đã gắn bó với bạn tình đồng giới được 12 năm hoặc lâu hơn, chỉ có 5% kéo dài hơn 20 năm. Trong khi đó, Trung tâm Sức khỏe Quốc gia năm 2001 thống kê rằng 66% các cuộc hôn nhân nam-nữ đã kéo dài được 10 năm hoặc lâu hơn, 50% kéo dài được 20 năm hoặc lâu hơn. Điều này cho thấy rằng chỉ một số ít mối quan hệ đồng tính đạt được tuổi thọ lâu dài về hôn nhân[161].

Về mức độ chung thủy, nghiên cứu của Sondra E. SolomonEsther D. Rothblum cho biết: khi được hỏi về thái độ đối với việc quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn tình, 40,3% các nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) đã từng thảo luận và chấp nhận điều đó trong vài hoàn cảnh, so với chỉ 3,5% ở nam giới đã kết hôn với nữ; số nam đồng tính phản đối là 50,4% so với 78,6% ở nam giới kết hôn với nữ. Có 58,3% các cặp nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) có quan hệ tình dục ngoài bạn tình, so với 15,2% ở nam kết hôn với nữ[165]. Theo Báo cáo Mendola, chỉ 26% người đồng tính tin rằng chung thủy là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc hôn nhân[161].

Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam-nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính.[166] Andrew Sullivan, một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất "khác biệt" so với xã hội. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đôi đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ. Một khảo sát của Tạp chí Nghiên cứu Giới tính cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người dị tính.[167]

Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều người đồng tính đối với cam kết trong hôn nhân:

Người đồng tính có niềm tin rằng mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục. Quan hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản. Họ tin rằng nguyên tắc một vợ một chồng trong hôn nhân không phải là tiêu chuẩn và cũng không cần được khuyến khích.[168]

Quan điểm tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới bị một số nhóm tôn giáo phản đối gọi là "tái định nghĩa hôn nhân".[169][170][171]

Các tôn giáo chính trên thế giới có quan điểm khác nhau về hôn nhân đồng giới. Chẳng hạn, trong số các hệ phái lớn của Kitô giáo, lập trường chính thức của Giáo hội Công giáo Rôma là chống mọi hình thức kỳ thị người đồng tính nhưng phản đối hôn nhân đồng giới,[172][173][174] Giáo hội Chính thống giáo,[175] một số giáo hội Tin Lành, đa số người Hồi giáo,[176] cũng như Do Thái giáo Chính thống có cùng quan điểm như thế. Phật giáo được cho là có quan điểm không nhất quán về vấn đề này theo cách tổng thể.[177]

Giáo hoàng Biển Đức XVI cho rằng hôn nhân đồng tính cấu thành hành vi chống lại sự thật bản chất của con người. Đó là một nỗ lực không mệt mỏi của cả Tòa Thánh Vatican mà người đứng đầu là Giáo hoàng, nhằm cố gắng tác động tới Hoa Kỳ và một loạt các nước châu Âu đang đòi hỏi công nhận hôn nhân đồng tính trong thời gian qua. Giáo hoàng Biển Đức XVI đã lên tiếng bày tỏ quan điểm rằng: "Hôn nhân đồng giới là phi tự nhiên và có thể gây nhiều phẫn nộ ảnh hưởng tới hòa bình và công lý trên thế giới". Giáo hoàng Biển Đức XVI khi còn tại vị từng kêu gọi:[178][179]

Chúng ta cần phải phổ cập và lan truyền kiến thức về hôn nhân tự nhiên trong sự giao hòa giữa phái nam và phái nữ nhằm gia tăng nỗ lực chống lại mọi sự dị biến hôn nhân. Những dị biến như thế làm mất ổn định tính tự nhiên của hôn nhân, che lấp bản chất vốn có của hôn nhân và làm phai nhạt vai trò quan trọng của nó đối với xã hội. Nguyên tắc hôn nhân này không phải là chân lý đức tin mà đơn giản là hệ quả tất yếu của quyền tự do tôn giáo, thể hiện bản chất của con người và là một thành quả phát triển của nhân loại. [...]
Hãy biết thêm về giá trị của gia đình và hôn nhân. Là tín đồ Kitô, chúng ta có bổn phận bảo vệ nguyên tính và nhất thống của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ trước bất kỳ hình thức diễn dịch lệch lạc nào
.

Mặt khác, nhiều cộng đồng tôn giáo trên thế giới ủng hộ hoặc cử hành nghi lễ cho các cặp kết hôn đồng giới. Trong số đó có thể kể đến: Phật giáo tại Australia, Giáo hội Giám nhiệm (Hoa Kỳ), Giáo hội Trưởng lão (USA), Giáo hội Đan Mạch, Giáo hội Thụy Điển, Giáo hội Iceland (Lutheran), Metropolitan Community Church, United Church of Christ, Evangelical Lutheran Church in America, một số nhánh Do Thái giáo tại Mỹ, v.v.

Các phong trào ủng hộ hoặc phản đối[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6/2011, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thông qua tuyên bố về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên toàn cầu. Tuyên bố khẳng định "mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng về nhân cách và quyền lợi, và mọi người đều xứng đáng có được tự do và quyền lợi mà không bị phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào". 96 nước thành viên của Liên Hợp Quốc đã ký tên ủng hộ nghị quyết công nhân quyền của người đồng tính, 44 nước không ủng hộ cũng không phản đối quyền của người đồng tính, 57 nước ký tên phản đối quyền của người đồng tính (hiện còn 54 nước vì có 3 nước đã chuyển sang ủng hộ quyền của người đồng tính).[180][181][182][183][184][185][186]

Trong ngày 27/1/2013, hàng trăm ngàn người Pháp đã xuống đường ủng hộ hôn nhân đồng giới được Chính phủ thông qua. Chỉ riêng thủ đô Paris, theo số liệu của cảnh sát là 125.000 người còn theo số liệu của các nhà tổ chức là 400.000 người đã xuống đường để hô khẩu hiệu và giương biểu ngữ ủng hộ. Tại các địa phương khác, tổng số người tham gia hoạt động này là khoảng 100.000 người.[187]

Ngày 26/06/2015, Tòa án tối cao Mỹ đã thông qua điều luật hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới trên toàn nước Mỹ. Ngay lập tức, trên các phương tiện truyền thông: báo đài, truyền hình, mạng xã hội... nhiều người dân Mỹ bày tỏ sự ủng hộ với người đồng tính. Nhiều chính khách, nghệ sĩ, doanh nhân cũng thể hiện sự vui mừng trước bước tiến triển mới về những nỗ lực cho cộng đồng LGBT. Mạng xã hội facebook lập ra ứng dụng đổi hình đại diện sang màu cầu vồng sáu sắc mang tên "Celebrate Pride" để thể hiện sự ủng hộ đối với người đồng tính. Sau 4 ngày, gần 30 triệu tài khoản đã thay đổi hình đại diện sang biểu tượng cầu vồng để ủng hộ hôn nhân đồng giới. Thống kê của Facebook cho biết các hình ảnh ủng hộ hôn nhân đồng giới đã nhận được hơn 500 triệu lượt like sau 4 ngày. Nhiều người nổi tiếng trên thế giới và cả ở Việt Nam đã tham gia phong trào này.[188][188][189]

Ngày 30/6/2013, sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bãi bỏ lệnh cấm hôn nhân đồng giới, nhiều người Mỹ đã ra đường để ủng hộ người đồng tính. Riêng tại thành phố New York, Hãng thông tấn AP ước tính có khoảng hai triệu người tham gia diễu hành vì quyền của người đồng tính. Nhiều cuộc diễu hành cũng được tổ chức tại San Francisco, Chicago, Seattle, Minneapolis,Venezuela, Costa Rica, Colombia và nhiều nơi khác trên khắp Châu Mỹ.[190] Theo tờ Daily Mail ước tính có khoảng 950.000 người đã tham gia vào các sự kiện ủng hộ người đồng tính trong vài tuần trên khắp thế giới[191]. Tại Anh, 30.000 ngàn người đã xuống đường phố London diễu hành ủng hộ hôn nhân đồng giới, lá cờ cầu vồng được treo 1 tuần trên nóc Văn phòng Nội các Westminster (trung tâm London) để chào mừng sự kiện.[192]. Tại Nhật Bản, đã có khoảng 3.000 người tham gia cuộc tuần hành tại thủ đô Tokyo để kêu gọi Chính phủ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới.[193].

Sau khi Hoa Kỳ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, Tim Cook - CEO (giám đốc điều hành) của Tập đoàn Apple đã công khai mình là một người đồng tính. Ông đã dẫn đầu đoàn diễu hành gồm 8.000 nhân viên Apple xuống đường tuần hành với cờ lục sắc để ăn mừng sự kiện.[194].

Tại thành phố Toronto, Canada, Pride week là một trong những lễ hội đồng tính lớn nhất trên thế giới diễn ra thường niên và nhận được sự ủng hộ của chính quyền thành phố. Sự kiện thu hút 500000 đến 1 triệu người tham gia mỗi năm và được coi là một trong những lễ hộ văn hóa lớn nhất Bắc Mỹ. Lễ hội năm 2009 đã thu hút 1 triệu người tham dự và đem về cho thành phố 136 triệu đôla Canada. Lễ hội năm 2012 thu hút 1,2 triệu người tham dự. Lễ hội năm 2014 đem về 791 triệu đôla Canada cho thành phố. Pride week đã nhận giải "sự kiện hàng đầu" của giải thưởng Top Choice Award năm 2008.[195][196][197][198][199]

Lễ diễu hành đồng tính đầu tiên tại Đài Bắc năm 2003 có 500 người tham dự, nhưng đến năm 2013 đã có 78000 người tham dự, trở thành lễ diễu hành đồng tính lớn nhất Đài Loan từ trước tới nay. Nhiều sự kiện và hội thảo quốc tế về LGBT cũng được tổ chức trong dịp này.[200] Lễ diễu hành đồng tính năm 2007 tại Madrid, Tây Ban Nha có 2,3 triệu người tham dự. Sự kiện nhận được sự ủng hộ của chính quyền thành phố, vùng và nhà nước.[201] Lễ diễu hành đồng tính tại Cologne,Đức năm 2002 có 1,2 triệu người tham dự.[202]

Tháng 11/2015, 10.000 người đã có buổi diễu hành quy mô lớn nhất ở Hồng Kông để ủng hộ hôn nhân đồng tính[203]. Cùng thời điểm, tại Đài Loan cũng có cuộc tuần hành kỷ lục với 78.000 người để ủng hộ hôn nhân đồng giới và cộng đồng LGBT[204].

Ngược lại cũng diễn ra nhiều cuộc diễu hành phản đối hôn nhân đồng tính:

  • Năm 2012, trên 100.000 người ở Pháp tham gia biểu tình phản đối việc chính phủ nước này hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Ít nhất 70.000 người biểu tình đã tràn ra các đường phố ở thủ đô Paris, số còn lại tập trung tại các thành phố Lyon, Toulouse và Marseille.[205] Năm 2013, khoảng 300.000 người đã tập trung trên các đường phố ở thủ đô Paris để tuần hành phản đối hôn nhân đồng tính.[206]
  • Sau khi tổ chức từ năm 1990, tới năm 2015, diễu hành đồng tính đã bị cấm bởi cảnh sát Hàn Quốc. Sau những phản đối từ các nhóm Thiên Chúa giáo, ngày 30 tháng 5, cảnh sát Hàn Quốc đã đưa ra một thông báo cấm diễu hành đồng tính dựa trên Điều 8 của Luật về hội họp và biểu tình, theo đó cấm cuộc diễu hành vì bất tiện cho người đi bộ và phương tiện giao thông[207].
  • Năm 2015, cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ đã dùng hơi cayvòi rồng để giải tán một đoàn diễu hành đồng tính ở Istanbul sau khi có lệnh cấm của thị trưởng được ban bố nhân tháng lễ Ramadan của người Hồi giáo[208].
  • Tại Úc, những người biểu tình phản đối hôn nhân đồng giới đã tụ tập tại Sydney cho một cuộc biểu tình phản đối.[209]
  • Tại Mexico, khoảng 5.000 đến 10.000 người đã xuống đường phố Guadalajara, thủ phủ của tiểu bang Mexico tây Jalisco để phản đối hôn nhân đồng tính và việc nhận con nuôi của những người đồng tính.[210]
  • Tại Italy, khoảng 300.000 tới 1 triệu người đã tuần hành phản đối hôn nhân đồng tính tại Quảng trường San Giovanni ở Rome.[211]
  • Tại Serbia, năm 2011, chính phủ nước này đã quyết định sử dụng cảnh sát để ngăn chặn một cuộc diễu hành đồng tính được dự kiến tổ chức. Cảnh sát đã bắt giữ sáu người ở Belgrade. Trong khi một số người nói rằng chính quyền Serbia đã cấm diễu hành đồng tính một cách thô bạo, nhiều người Serbia tỏ ra hạnh phúc khi những giá trị truyền thống đã giành chiến thắng[212].
  • Tại Singapore, sau khi nhận nhiều khiếu nại từ các phụ huynh theo đạo Thiên Chúa, Cơ quan quản lý văn hóa nước này đã loại bỏ 3 cuốn sách cho trẻ em vì chứa nội dung đồng tính. Cơ quan này cũng cấm nhập nhiều truyện tranh Mỹ vì có chứa nội dung về hôn nhân đồng tính, điều bị coi là đi ngược lại với đạo đức xã hội. Quan hệ đồng tính nam ở Singapore có thể bị phạt 2 năm tù[213].

Nước Nga dưới thời Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ra luật cấm mọi hình thức tuyên truyền về hôn nhân đồng giới [214]. Bộ luật cấm những sự kiện cổ vũ cho người đồng tính, quy định việc cung cấp những thông tin "tuyên truyền việc về đồng tính nữ, lưỡng tính và chuyển giới" cho trẻ vị thành niên là phạm pháp, đồng thời các sự kiện cổ vũ cho quyền lợi của người đồng tính cũng bị cấm. Đây là một nỗ lực mới nhằm cổ vũ những giá trị truyền thống của nước Nga và chống lại chủ nghĩa tự do phương Tây, mà Chính phủ và Giáo hội Nga cho rằng đang làm băng hoại giới trẻ cũng như kích động các vụ biểu tình chống lại Tổng thống Putin.[215] Trên thực tế, khi được đưa ra bỏ phiếu, Bộ luật cấm tuyên truyền đồng tính đã được Duma Quốc gia Nga (Hạ viện Nga) thông qua với số phiếu tuyệt đối 436 thuận - 0 phiếu chống, và 88% người dân Nga được phỏng vấn đã bày tỏ ủng hộ đối với lệnh cấm[216] Bên cạnh đó, từ năm 2015, Chính quyền thành phố Moskva và quốc hội Nga đã đề ra Ngày tình yêu gia đình và cho rằng muốn sử dụng ngày này trong chiến dịch bảo vệ các giá trị gia đình truyền thống chống lại sự tuyên truyền của phong trào LGBT[217].

Sau khi đạo luật được ban hành, hơn 200 nghệ sỹ trên thế giới như danh ca Madonna, Debbie Harry, diễn viên Susan Sarandon, nhà văn Gunter Grass, Orhan Pamuk, đại văn hào Đức Gunter Grass, nhà thơ Ấn Độ Salman Rushdie, thi sĩ nữ Canada Margaret Atwood, tiểu thuyết gia người Mỹ Jonathan Franzen, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, cùng nhiều nhà văn khác như Neil Gaiman, Wole Soyinka, Elfriede Jelinek, Ian McEwan, Carol Ann Duffy, Julian Barnes… đã cùng ký tên vào một bức thư ngỏ đăng tải trên tờ Guardian (Anh) để phản đối đạo luật này của Nga. Bức thư đã viết: "Chính sách này sẽ bóp chết sự sáng tạo, đẩy giới văn sĩ vào tình trạng rủi ro".[218]. Các đại diện ngoại giao cấp cao của ĐứcLiên minh châu Âu cũng lên tiếng phản đối rằng đạo luật này của Nga đi ngược lại quyền con người và củng cố phân biệt đối xử, kêu gọi Nga tôn trọng các cam kết quốc tế như Công ước châu Âu về nhân quyền mà Nga đã ký.[219]. Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc thì chỉ trích đạo luật này của Nga là đạo luật phân biệt đối xử và vi phạm nhân quyền, bao gồm cả quyền của trẻ em đồng tính được tiếp cận những thông tin thích hợp, rằng "đạo luật này đã hình thành cơ sở cho hành vi sách nhiễu thường xuyên, thậm chí giam giữ tùy tiện, và giúp tạo ra một không khí sợ hãi cho bất cứ ai hoạt động thúc đẩy quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới".[220]. Một nhóm các chuyên gia của Liên hiệp quốc đã gửi thông báo cho Chính phủ Nga yêu cầu xem xét loại bỏ đạo luật chống "tuyên truyền đồng tính" hình thành trên cơ sở vi phạm nhân quyền. Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc cho biết: "Đạo luật "Cấm tuyên truyền đồng tính luyến ái" của Nga không chỉ trừng phạt những người tăng cường sức khỏe tình dục và sinh sản ở những người LGBT mà còn hủy hoại các quyền của trẻ em trong việc truy cập thông tin sức khỏe liên quan để bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần."[221].

Trước những chỉ trích, tổng thống Nga Vladimir Putin trả lời: "Vấn đề của người đồng tính ở Nga đã được cố tình phóng đại từ bên ngoài vì những lý do chính trị, và tôi tin rằng, đó không phải là những mục đích tốt... Tôi không thấy bất cứ điều gì phản dân chủ trong hành vi pháp lý này. Tôi tin rằng chúng ta nên để trẻ em sống trong yên bình. Chúng ta cần phải cung cấp cho trẻ em một cơ hội để phát triển, giúp trẻ em nhận ra mình là ai và có quyền đưa ra quyết định cho mình. Trẻ em muốn sống trong một cuộc hôn nhân tự nhiên bình thường hay là một cuộc hôn nhân phi truyền thống? Đó là điều duy nhất tôi muốn nói"[222] Ông Putin cho biết việc phân biệt đối xử đối với những người đồng tính là vấn đề quan trọng cho việc duy trì dân số đất nước: "người châu Âu đang chết dần (do già hóa dân số)... và hôn nhân đồng tính không thể tạo ra trẻ em", "chúng tôi có sự lựa chọn cho riêng chúng tôi (nước Nga), và chúng tôi đã làm thế vì đất nước của chúng tôi"[223].

Văn hóa, nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều tác phẩm khắc họa tình yêu đồng tính và ủng hộ hôn nhân đồng giới đã được sản xuất, trình diễn và được các nhà chuyên môn đánh giá cao.

Theo công ty thống kê Nielsen, bộ phim "Behind the Candelabra" nói về tình yêu đồng tính của nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng Liberace và chàng trai Scott Thorson đã được một lượng khán giả lớn 2,4 triệu người xem trên kênh HBO, lượng người xem khá cao đối với một bộ phim truyền hình. Ngoài ra, còn có 1,1 triệu người khác xem buổi chiếu lại của bộ phim. Bộ phim được các nhà chuyên môn đánh giá cao. Phim đã được đề cử giải Quả Cầu Vàng 2014 ở thể loại phim truyền hình với tổng cộng 4 đề cử và giành được 2 giải dành cho Phim truyền hình ngắn tập xuất sắc và Nam diễn viên phim truyền hình ngắn tập xuất sắc. Phim cũng giành được 11 giải Primetime Emmy Awards bao gồm giải phim hay nhất và diễn viên chính xuất sắc nhất, giải Critics' Choice Television Award cho phim hay nhất, giải Satellite cho diễn viên chính xuất sắc nhất, 5 đề cử giải BAFTA và nhiều giải thưởng khác.[224][225][226][227][228][229]

Bộ phim nói về đề tài đồng tính "Blue Is The Warmest Colour" của đạo diễn người Pháp Abdellatif Kechiche đã giành giải Cành Cọ Vàng cho Phim xuất sắc nhất của LHP Cannes 2013. Đạo diễn Abdellatif Kechiche cho biết bộ phim là "hi vọng về tự do, sống tương thân, được tự do thể hiện bản thân và tự do bày tỏ tình yêu." Đạo diễn Steven Spielberg, Chủ tịch Ban giám khảo nhận định: "Phim là một chuyện tình lớn khiến tất cả chúng ta cảm thấy vinh hạnh được sống. Đạo diễn đã không đặt nặng vào cốt truyện và cách kể truyện. Ông đã để cho các cảnh phim tự chạy trong đời thực. Bộ phim chứa đựng thông điệp mạnh mẽ và rất tích cực về đồng tính nữ. Tác phẩm này chạm tới tâm hồn của những người đồng tính. Họ cũng có quyền yêu thương và hạnh phúc như bao người bình thường khác nếu không có rào cản của xã hội". Phim được các nhà phê bình đánh giá cao và giành giải Phim xuất sắc nhất của Hiệp hội Phê bình gia FIPRESCI. Các bài bình luận trên các báo khen ngợi bộ phim, nhiều nhà phê bình đánh giá đây là bộ phim hay nhất của Pháp năm 2013. Phim giành giải phim nước ngoài hay nhất của Austin Film Critics Association, British Independent Film Awards, Critics' Choice Awards, Dallas–Fort Worth Film Critics Association, Independent Spirit Awards... và rất nhiều giải thưởng quốc tế khác.[230][231][232][233][234][235][236][237][238]

Bộ phim "Bá Vương Biệt Cơ" của đạo diễn Trần Khải Ca nói về một nam diễn viên kinh kịch chuyên đóng vai phụ nữ, đã được công chúng Hong Kong bình chọn là phim Trung Quốc được yêu thích nhất mọi thời đại nhân dịp kỷ niệm 100 năm điện ảnh Trung Quốc. Phim đạt giải Quả Cầu Vàng cho phim nước ngoài hay nhất và là phim Trung Quốc duy nhất giành giải Cành Cọ Vàng tại Liên hoan phim Cannes cho tới lúc đó. Phim lọt vào danh sách 100 bộ phim hay nhất mọi thời đại của tạp chí Time, tạp chí Empire... Phim cũng giành giải Phim xuất sắc nhất của Hiệp hội Phê bình gia FIPRESCI, giải BAFTA, giải César, giải Boston Society of Film Critics, Los Angeles Film Critics Association, National Board of Review (USA)... cho phim nước ngoài hay nhất.[239][240][241][242]

Backstreet Boys, nhóm nhạc số một thế giới một thời đã phát hành đĩa đơn "In a world like this" để kỷ niệm 20 năm biểu diễn của ban nhạc và bày tỏ sự ủng hộ đối với hôn nhân đồng giới. "In a world like this" đã mô tả những sự kiện lịch sử đối với nước Mỹ như cuộc đổ bộ đầu tiên của con người lên mặt trăng, vụ khủng bố 11/9 và việc nước Mỹ công nhận hôn nhân đồng giới. Bài hát mang thông điệp: "Một tình yêu thực sự sẽ giúp bạn vượt qua mọi thứ trong thế giới này với tất cả sự điên cuồng và năng lượng tiêu cực xung quanh". Backstreet Boys cho biết "sản phẩm âm nhạc này là món quà tinh thần ý nghĩa với những người đồng tính, việc công nhận hôn nhân đồng giới và những người trong cộng đồng, xã hội cần được tôn trọng". Đây cũng là bài hát chủ đề cho album thứ 8 của nhóm. Bài hát nhận được nhiều sự khen ngợi từ giới phê bình và đạt thứ hạng cao tại nhiều quốc gia. Video của bài hát hiện có hơn 15 triệu lượt xem trên Youtube.[243]

Final Fantasy XIV, tựa game mới nhất của dòng game nhập vai Final Fantasy đã công nhận quyền kết hôn của các game thủ không phân biệt giới tính, chủng tộc và quốc gia từ năm 2014. Ngay sau khi tính năng này được ra mắt, cộng đồng game thủ LGBTA của game nhập vai online này đã tổ chức một cuộc diễu hành đồng tính trong thế giới của game. Nhà sản xuất Naoki Yoshida cho biết " chúng ta không thể ngăn cản tình yêu và tình bạn giữa các game thủ", "những nhân vật tại vùng đất Eorzea (một địa danh trong trò chơi) sẽ được thể hiện tình yêu hoặc tình bạn của họ trong một buổi lễ kết đôi. Sự kiện này sẽ chào đón tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính và tín ngưỡng. Hai người chơi nếu họ muốn được bên nhau, họ có thể thực hiện nó qua buổi lễ kết đôi ở Eorzea." Square Enix là hãng game rất thân thiện với cộng đồng LGBT. Năm 1997, trò chơi nhập vai Saga Frontier có nhân vật chính Asellus là một cô gái có tình cảm với phụ nữ. Một trong những kết thúc của trò chơi cho phép Asellus lấy 1 cô gái khác làm vợ. Một trong những nhân vật chính của game nhập vai nổi tiếng Final Fantasy IX, Quina thuộc một chủng tộc có giới tính không xác định là chủng tộc Qu và người chơi có thể gọi Quina là 'anh ấy" hoặc 'cô ấy" đều được. Nhiều game khác của hãng cũng có những nhân vật phụ là LGBT như Bahamut Lagoon, Final Fantasy VII, Chrono Trigger, The Last Remnant...[244][245]

Fallout 2 là trò chơi đầu tiên cho phép kết hôn đồng giới từ năm 1998. Các mối quan hệ đồng tính trong game đã ảnh hưởng sâu tới gameplay và mang tới cho các game thủ một cái nhìn rất khác, đa dạng và sâu sắc hơn về cộng đồng LBGT. Nhiều trò chơi nổi tiếng khác cũng có các nhân vật là người đồng tính và cho phép các game thủ kết hôn đồng giới như Fable, The Sims, Dragon Age, Mass Effect, The Elder Scrolls V: Skyrim, Fire Emblem Fates... Khi thông báo về việc tựa game mới nhất của dòng game nổi tiếng Fire Emblem sẽ cho phép kết hôn đồng giới, đơn vị phát triển Tomodachi Life cho biết họ sẽ "cố gắng thiết kế những trải nghiệm chơi game mới một cách toàn diện và gắn với thực tế hơn. Dẫu rằng trò chơi này thực sự được chú ý, tuy nhiên việc những người làm game đã lắng nghe, vừa sửa đổi sản phẩm của mình cho phù hợp với cộng đồng, luôn là một điều đáng để khen ngợi". Trong tương lai gần, dự kiến sẽ có rất nhiều trò chơi thân thiện với cộng đồng LBGT ra đời hơn nữa.[246][247][248]

Tại Việt Nam, nhiều trò chơi trực tuyến cũng đã cho phép các game thủ kết hôn đồng giới như Audition, Cửu Âm Chân Kinh, Liên Minh Huyền Bí, Cửu Dương Thần Công, The Sims... Nhận thấy chuyện kết hôn đồng giới đang nhận được quan tâm từ cộng đồng game thủ quốc tế, tháng 9 năm 2014, BEAT 3D (tựa game thể loại vũ đạo sở hữu một cộng đồng game thủ lớn) trở thành game mobile vũ đạo đầu tiên có tính năng kết hôn đồng giới tại Việt Nam. BEAT 3D cho biết với việc ra mắt phiên bản Big Update "Tình Yêu Màu Nắng", họ muốn đem hi vọng tới những mối tình đồng giới trên cộng đồng mạng xã hội Việt Nam.[249][250][251]

Các khía cạnh kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân đồng giới đem đến cho những người LGBT, cũng là những người đóng thuế cho chính phủ, được sử dụng những dịch vụ công và hiện thực nhu cầu tài chính như những cặp khác giới khác. Hôn nhân đồng giới cũng đem đến cho họ sự bảo vệ hợp pháp ví dụ như quyền thừa kế và quyền thăm nuôi.[252] Nhiều nghiên cứu, thống kê và đánh giá đã chỉ ra việc công nhân hôn nhân đồng giới có lợi cho nền kinh tế, thị trường, du lịch và phát triển xã hội.[253]

Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) tại Việt Nam, 29% các cặp đôi đồng tính sở hữu chung các tài sản có giá trị lớn như ô tô, sổ tiết kiệm, 18,4% có vốn đầu tư kinh doanh chung, 16% có nhà đất chung (chỉ đứng tên một trong hai người)… Việc không công nhận hôn nhân đồng giới sẽ gây ra những rắc rối khi phân chia tài sản và gây thiệt thòi về quyền thừa kế khi có một người đột ngột qua đời.[254]

Một nghiên cứu ở Australia năm 2013 cho biết các cặp đồng tính có thu nhập cao hơn 29% so với các cặp khác giới do họ có thể làm toàn thời gian mà không cần lo chăm sóc con cái.[255][256]

Thống kê của hãng Prudential ở Mỹ năm 2011 với 1.000 người cho thấy người đồng tính kiếm được nhiều tiền hơn và ít nợ nần hơn so với người dị tính, nhưng một cuộc thăm dò quy mô lớn do Viện Gallup với hơn 120.000 người thực sự cho thấy rằng các cá nhân LGBT thường có thu nhập thấp và ít giáo dục so với dân số nói chung.[257] Vào ngày 17/12/2009, Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ ước tính rằng chi phí mà chính phủ Mỹ phải trả nếu công nhận bạn tình đồng tính của nhân viên liên bang có quyền lợi giống như vợ chồng khác giới (chưa tính đến chi phí bổ sung như an sinh xã hội và thuế thừa kế) sẽ là 596 triệu USD bắt buộc và 302 triệu USD chi tiêu tùy ý từ năm 2010 tới 2019[258].

Viện William, một tổ chức ở Mỹ nghiên cứu về tình trạng bất bình đẳng xã hội, phân biệt đối xử và mối quan hệ, tác động của luật pháp, chính sách công tới các nhóm xã hội, trong một cuộc khảo sát vào tháng 6/2013 cho thấy có sự thấp hơn về điều kiện kinh tế giữa các cặp vợ chồng đồng tính so với dị tính nói chung và các chủng tộc khác nhau nói riêng[259]:

  • 7,6% các cặp vợ chồng đồng tính nữ, so với 5,7% của các cặp vợ chồng kết hôn khác giới, đang sống trong cảnh nghèo đói.
  • Các cặp đồng tính người Mỹ gốc Phi có tỷ lệ nghèo cao hơn gấp đôi tỷ lệ của các cặp vợ chồng gốc Phi khác.
  • 1/3 các cặp vợ chồng đồng tính nữ và 20,1% các cặp nam đồng tính mà không có một bằng tốt nghiệp trung học đang sống nghèo đói, so với tỉ lệ 18,8% của các cặp vợ chồng nói chung.
  • cặp đồng giới nữ ở khu vực nông thôn đang có nhiều khả năng là người nghèo (14,1%), so với 4,5% của đồng tính nữ cùng ở các thành phố lớn. 10,2% các cặp đồng tính nam đang sống trong khu vực đô thị nhỏ là người nghèo, so với 3,3% của đàn ông đồng tính nam trong khu vực đô thị lớn.
  • Gần 1/4 trẻ em sống với một cặp đồng tính nam và 19,2% trẻ em sống chung với một nữ cặp đồng tính đang sống trong cảnh nghèo đói, so với 12,1% trẻ em của các cặp vợ chồng khác giới. Trẻ em người Mỹ gốc Phi trong các hộ gia đình đồng tính nam có tỷ lệ nghèo cao nhất (52,3%) của bất kỳ trẻ em trong bất kỳ loại hộ gia đình.
  • 14,1% các cặp đồng tính nữ và 7,7% các cặp đồng tính nam phải nhận trợ cấp thực phẩm, so với 6,5% của các cặp vợ chồng thông thường.

Ngoài ra, viện William cũng nhận xét: "Thống kê cho thấy tỷ lệ nghèo là thấp hơn trong các cặp đồng tính nữ ở các tiểu bang có luật chống phân biệt đối xử. Ngược lại, tỷ lệ nghèo cao hơn ở các bang mà không có luật phân biệt đối xử đối, và khoảng cách giàu nghèo là rõ ràng đối với cặp đồng tính nữ... Chính sách công cộng có tác dụng giảm nghèo là chính sách làm giảm phân biệt đối xử trong việc làm dựa trên khuynh hướng tình dục và giới tính. Hiện nay pháp luật liên bang, cũng như các luật hầu hết các bang, không bảo vệ người LGBT từ kỳ thị việc làm. Việc thực thi pháp luật công bằng, không phân biệt có thể giúp ngăn ngừa nghèo bằng cách giảm nguy cơ thất nghiệp hoặc mất lương"[260].

Một số nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ nghèo đói đặc biệt cao ở cộng đồng người đồng tính không phải là người da trắng, già và sinh sống tại các vùng nông thôn.[261]

Dư luận[sửa | sửa mã nguồn]

Dư luận về hôn nhân đồng giới. Phần có lợi:[262]
Biểu tình chống hôn nhân đồng tính tại San Francisco năm 2008

Nhiều cuộc thăm dò và nghiên cứu về vấn đề này đã được tiến hành. Xu hướng ủng hộ hôn nhân đồng giới ngày càng tăng và xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, phần lớn là do sự khác biệt giữa các thế hệ trong việc nuôi dưỡng. Cuộc thăm dò được tiến hành ở các nền dân chủ phát triển trong thế kỷ này cho thấy đa số người dân ủng hộ hôn nhân đồng giới. Sự ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới  đã tăng lên ở mọi lứa tuổi, hệ tư tưởng chính trị, tôn giáo, giới tính, chủng tộc và ở nhiều khu vực của các quốc gia phát triển khác nhau trên thế giới.[263][264][265][266][267][Cần cập nhật]

Các cuộc thăm dò và nghiên cứu chi tiết khác nhau về hôn nhân đồng giới được thực hiện ở một số quốc gia cho thấy rằng sự ủng hộ đối với hôn nhân đồng giới tăng lên đáng kể khi có trình độ học vấn cao hơn và cũng mạnh hơn đáng kể ở các thế hệ trẻ, với xu hướng rõ ràng là sự ủng hộ liên tục gia tăng.[268][269][270][271][272][Cần cập nhật]

Thăm dò ý kiến ​​về hôn nhân đồng giới theo quốc gia
  Hôn nhân đồng giới thực hiện trên toàn quốc
  Hôn nhân đồng giới được thực hiện ở một số vùng của đất nước
  Kết hợp dân sự hoặc đăng ký chung sống dân sự trên toàn quốc
  Hoạt động tình dục đồng giới là bất hợp pháp
Quốc giaHãng thăm dò ý kiếnNămỦng hộ[k]Phản đối[k]Chưa biết[l]Biên độ
lỗi
Nguồn
Andorra AndorraInstitut d'Estudis Andorrans2013&000000000000007000000070%
(&000000000000007900000079%)
&000000000000001900000019%
(&000000000000002100000021%)
&000000000000001100000011%[273]
Antigua và Barbuda Antigua và BarbudaAmericasBarometer2017&000000000000001200000012%[274]
Argentina ArgentinaAmericasBarometer2017&000000000000006500000065%&000000000000003500000035%±1.2%[274]
Armenia ArmeniaPew Research Center2015&00000000000000030000003%
(&00000000000000030000003%)
&000000000000009600000096%
(&000000000000009700000097%)
&00000000000000010000001%±3%[275][276]
Úc ÚcEssential2018&000000000000006500000065%
(&000000000000007100000071%)
&000000000000002600000026%
(&000000000000002900000029%)
&00000000000000090000009%[277]
Áo ÁoEurobarometer2019&000000000000006600000066%
(&000000000000006900000069%)
&000000000000003000000030%
(&000000000000003100000031%)
&00000000000000040000004%[278]
Bahamas BahamasAmericasBarometer2014&000000000000001100000011%[279]
Belarus BelarusPew Research Center2015&000000000000001600000016%
(&000000000000001600000016%)
&000000000000008100000081%
(&000000000000008400000084%)
&00000000000000030000003%±4%[275][276]
Belize BelizeAmericasBarometer2014&00000000000000080000008%[279]
Bỉ BỉEurobarometer2019&000000000000008200000082%
(&000000000000008300000083%)
&000000000000001700000017%
(&000000000000001700000017%)
&00000000000000010000001%[278]
Bolivia BoliviaAmericasBarometer2017&000000000000003500000035%&000000000000006500000065%±1.0%[274]
Bosna và Hercegovina Bosnia và HerzegovinaPew Research Center2015–2016&000000000000001300000013%
(&000000000000001400000014%)
&000000000000008400000084%
(&000000000000008700000087%)
&00000000000000040000004%±4%[275][276]
Brasil BrazilAmericasBarometer2017&000000000000005300000053%&000000000000004700000047%±1.3%[274]
Bulgaria BulgariaEurobarometer2019&000000000000001600000016%
(&000000000000001800000018%)
&000000000000007400000074%
(&000000000000008200000082%)
&000000000000001000000010%[278]
Campuchia CampuchiaTNS Cambodia2015&000000000000005500000055%
(&000000000000006500000065%)
&000000000000003000000030%
(&000000000000003500000035%)
&000000000000001500000015%[280]
Canada CanadaCROP2017&000000000000007400000074%&000000000000002600000026%[281]
Chile ChilePlaza Pública-Cadem2019&000000000000006600000066%
(&000000000000006800000068%)
&000000000000003100000031%
(&000000000000003200000032%)
&00000000000000030000003%[282]
Trung Quốc Trung QuốcIpsos2015&000000000000002900000029%
(&000000000000003600000036%)
&000000000000005100000051%
(&000000000000006400000064%)
&000000000000002000000020%[283]
Colombia ColombiaGallup2020 (5 cities)&000000000000004900000049%
(&000000000000005100000051%)
&000000000000004700000047%
(&000000000000004900000049%)
&00000000000000040000004%±2.8%[284]
Gallup2019&000000000000004100000041%&000000000000005400000054%[285]
AmericasBarometer2017&000000000000003400000034%&000000000000006600000066%±1.3%
Costa Rica Costa Rica[286]CIEP2018&000000000000002200000022%
(&000000000000003300000033%)
&000000000000004400000044%
(&000000000000006700000067%)
&000000000000003400000034%±2.3%[287]
AmericasBarometer2017&000000000000003500000035%&000000000000006500000065%±1.2%
Croatia CroatiaEurobarometer2019&000000000000003900000039%
(&000000000000004100000041%)
&000000000000005500000055%
(&000000000000005900000059%)
&00000000000000060000006%[278]
Cộng hòa Síp SípEurobarometer2019&000000000000003600000036%
(&000000000000003800000038%)
&000000000000006000000060%
(&000000000000006200000062%)
&00000000000000040000004%[278]
Cộng hòa Séc Cộng hòa SécMedian agency2019&000000000000006700000067%[288]
Cuba CubaApretaste2019&000000000000006300000063%&000000000000003700000037%[289]
Đan Mạch Đan MạchEurobarometer2019&000000000000008900000089%
(&000000000000009200000092%)
&00000000000000080000008%
(&00000000000000080000008%)
&00000000000000030000003%[278]
Dominica DominicaAmericasBarometer2017&000000000000001000000010%&000000000000009000000090%±1.1%[274]
Cộng hòa Dominica Cộng hòa DominicanaAmericasBarometer2016&000000000000002700000027%&000000000000007300000073%±1.0%[274]
Ecuador EcuadorAmericasBarometer2019&000000000000002300000023%
(&000000000000003100000031%)
&000000000000005100000051%
(&000000000000006900000069%)
&000000000000002600000026%[290]
2017&000000000000003300000033%&000000000000006700000067%±0.9%
El Salvador El SalvadorAmericasBarometer2017&000000000000001900000019%&000000000000008100000081%±0.9%[274]
Estonia EstoniaEurobarometer2019&000000000000004100000041%
(&000000000000004500000045%)
&000000000000005100000051%
(&000000000000005500000055%)
&00000000000000080000008%[278]
Phần Lan FinlandEurobarometer2019&000000000000007600000076%
(&000000000000007800000078%)
&000000000000002100000021%
(&000000000000002200000022%)
&00000000000000030000003%[278]
Pháp PhápEurobarometer2019&000000000000007900000079%
(&000000000000008400000084%)
&000000000000001500000015%
(&000000000000001600000016%)
&00000000000000060000006%[278]
Gruzia GruziaPew Research Center2016&00000000000000030000003%
(&00000000000000030000003%)
&000000000000009500000095%
(&000000000000009700000097%)
&00000000000000020000002%[275][276]
Đức ĐứcEurobarometer2019&000000000000008400000084%
(&000000000000008800000088%)
&000000000000001200000012%
(&000000000000001200000012%)
&00000000000000040000004%[278]
Hy Lạp Hy Lạp2015&000000000000005600000056%
(&000000000000006000000060%)
&000000000000003500000035%
(&000000000000004000000040%)
&00000000000000090000009%[291] [292]
Grenada GrenadaAmericasBarometer2017&000000000000001200000012%&000000000000008800000088%±1.4%[274]
Guatemala GuatemalaAmericasBarometer2017&000000000000002300000023%&000000000000007700000077%±1.1%[274]
Guyana GuyanaAmericasBarometer2017&000000000000002100000021%&000000000000007900000079%±1.3%[279]
Haiti HaitiAmericasBarometer2017&00000000000000050000005%&000000000000009500000095%±0.3%[274]
Honduras HondurasCID Gallup2018&000000000000001700000017%
(&000000000000001800000018%)
&000000000000007500000075%
(&000000000000008200000082%)
&00000000000000080000008%[293]
AmericasBarometer2017&000000000000002100000021%&000000000000007900000079%±0.8%
Hungary HungaryEurobarometer2019&000000000000003300000033%
(&000000000000003500000035%)
&000000000000006100000061%
(&000000000000006500000065%)
&00000000000000060000006%[278]
Iceland IcelandGallup2006&000000000000008900000089%&000000000000001100000011%[294]
Ấn Độ Ấn ĐộMood of the Nation2019&000000000000002400000024%
(&000000000000002800000028%)
&000000000000006200000062%
(&000000000000007200000072%)
&000000000000001400000014%[295][296]
Cộng hòa Ireland IrelandEurobarometer2019&000000000000007900000079%
(&000000000000008600000086%)
&000000000000001300000013%
(&000000000000001400000014%)
&00000000000000080000008%[278]
Israel IsraelHiddush2019&000000000000005500000055%&000000000000004500000045%[297]±4.5%[298]
Ý ÝEurispes2020&000000000000006000000060%&000000000000004000000040%[299]
Jamaica JamaicaAmericasBarometer2017&000000000000001600000016%&000000000000008400000084%±1.0%[274]
Nhật Bản Nhật BảnNHK2019&000000000000006500000065%&000000000000003000000030%&00000000000000050000005%[300]
Kazakhstan KazakhstanPew Research Center2016&00000000000000070000007%
(&00000000000000070000007%)
&000000000000008900000089%
(&000000000000009300000093%)
&00000000000000040000004%[275][276]
Latvia LatviaEurobarometer2019&000000000000002400000024%
(&000000000000002600000026%)
&000000000000007000000070%
(&000000000000007400000074%)
&00000000000000060000006%[278]
Litva LitvaEurobarometer2019&000000000000003000000030%
(&000000000000003200000032%)
&000000000000006300000063%
(&000000000000006800000068%)
&00000000000000070000007%[278]
Luxembourg LuxembourgEurobarometer2019&000000000000008500000085%
(&000000000000009000000090%)
&00000000000000090000009%
(&000000000000001000000010%)
&00000000000000060000006%[278]
Malta MaltaEurobarometer2019&000000000000006700000067%
(&000000000000007300000073%)
&000000000000002500000025%
(&000000000000002700000027%)
&00000000000000080000008%[278]
México MexicoAmericasBarometer2017&000000000000005100000051%&000000000000004900000049%±1.1%[274]
INEGI2017&000000000000006000000060%?&000000000000004000000040%[301]
Moldova MoldovaPew Research Center2015&00000000000000050000005%
(&00000000000000050000005%)
&000000000000009200000092%
(&000000000000009500000095%)
&00000000000000030000003%±4%[275][276]
Mozambique Mozambique (3 thành phố)Lambda2017&000000000000002800000028%
(&000000000000003200000032%)
&000000000000006000000060%
(&000000000000006800000068%)
&000000000000001200000012%[302]
Hà Lan Hà LanEurobarometer2019&000000000000009200000092%&00000000000000080000008%&00000000000000000000000%[278]
New Zealand New ZealandColmar Brunton2012&000000000000006300000063%
(&000000000000006600000066%)
&000000000000003100000031%
(&000000000000003300000033%)
&00000000000000050000005%[303]
Herald DigiPoll2013&000000000000005000000050%?&000000000000004800000048%&00000000000000020000002%?Bản mẫu:+-[304]
Nicaragua NicaraguaAmericasBarometer2017&000000000000002500000025%&000000000000007500000075%±1.0%[274]
Na Uy Na UyPew Research Center2017&000000000000007200000072%
(&000000000000007900000079%)
&000000000000001900000019%
(&000000000000002100000021%)
&00000000000000090000009%[275][276]
Panama PanamaAmericasBarometer2017&000000000000002200000022%&000000000000007800000078%±1.1%[274]
Paraguay ParaguayAmericasBarometer2017&000000000000002600000026%&000000000000007400000074%±0.9%[274]
Peru PeruIpsos2019&000000000000002900000029%
(&000000000000003000000030%)
&000000000000006700000067%
(&000000000000007000000070%)
&00000000000000040000004%[305]
AmericasBarometer2017&000000000000003800000038%&000000000000006200000062%±0.9%
Philippines PhilippinesSWS2018&000000000000002200000022%
(&000000000000002600000026%)
&000000000000006100000061%
(&000000000000007300000073%)
&000000000000001600000016%[306]
Ba Lan Ba LanEurobarometer2019&000000000000004500000045%
(&000000000000004700000047%)
&000000000000005000000050%
(&000000000000005300000053%)
&00000000000000050000005%[278]
Bồ Đào Nha Bồ Đào NhaEurobarometer2019&000000000000007400000074%
(&000000000000007900000079%)
&000000000000002000000020%
(&000000000000002100000021%)
&00000000000000060000006%[278]
România RomaniaEurobarometer2019&000000000000002900000029%
(&000000000000003200000032%)
&000000000000006300000063%
(&000000000000006800000068%)
&00000000000000080000008%[278]
Nga NgaFOM2019&00000000000000070000007%
(&00000000000000080000008%)
&000000000000008500000085%
(&000000000000009200000092%)
&00000000000000080000008%±3.6%[307]
Saint Kitts và Nevis Saint Kitts và NevisAmericasBarometer2017&00000000000000090000009%&000000000000009100000091%±1.0%[274]
Saint Lucia Saint LuciaAmericasBarometer2017&000000000000001100000011%&000000000000008900000089%±0.9%[274]
Saint Vincent và Grenadines Saint Vincent và GrenadinesAmericasBarometer2017&00000000000000040000004%&000000000000009600000096%±0.6%[274]
Serbia SerbiaPew Research Center2015&000000000000001200000012%
(&000000000000001300000013%)
&000000000000008300000083%
(&000000000000008700000087%)
&00000000000000050000005%±4%[275][276]
Singapore SingaporeIPS2019&000000000000002700000027%
(&000000000000003100000031%)
&000000000000006000000060%
(&000000000000006900000069%)
&000000000000001300000013%[308]
Slovakia SlovakiaEurobarometer2019&000000000000002000000020%
(&000000000000002200000022%)
&000000000000007000000070%
(&000000000000007800000078%)
&000000000000001000000010%[278]
Slovenia SloveniaEurobarometer2019&000000000000006200000062%
(&000000000000006400000064%)
&000000000000003500000035%
(&000000000000003600000036%)
&00000000000000030000003%[278]
Cộng hòa Nam Phi Nam PhiHSRC2015&000000000000003700000037%
(&000000000000004500000045%)
&000000000000004600000046%
(&000000000000005500000055%)
&000000000000001700000017%[309]
Hàn Quốc Hàn QuốcGallup Korea2017&000000000000004100000041%
(&000000000000004400000044%)
&000000000000005200000052%
(&000000000000005500000055%)
&00000000000000060000006%[310]
Tây Ban Nha Tây Ban NhaEurobarometer2019&000000000000008600000086%
(&000000000000009100000091%)
&00000000000000090000009%
(&00000000000000090000009%)
&00000000000000050000005%[278]
Suriname SurinameAmericasBarometer2014&000000000000001800000018%[279]
Thụy Điển Thụy ĐiểnEurobarometer2019&000000000000009200000092%
(&000000000000009400000094%)
&00000000000000060000006%
(&00000000000000060000006%)
&00000000000000020000002%[278]
Thụy Sĩ Thụy Sĩgfs-zürich2020&000000000000008100000081%
(&000000000000008200000082%)
&000000000000001800000018%
(&000000000000001800000018%)
&00000000000000010000001%[311]
Đài Loan Đài LoanTaiwan’s Election and Democratization Study2020&000000000000004300000043%&000000000000005700000057%
[312]
Thái Lan Thái LanNIDA Poll2015&000000000000005900000059%
(&000000000000006300000063%)
&000000000000003500000035%
(&000000000000003700000037%)
&00000000000000060000006%[313]
Trinidad và Tobago Trinidad và TobagoAmericasBarometer2014&000000000000001600000016%[279]
Thổ Nhĩ Kỳ Thổ Nhĩ KỳIpsos2015&000000000000002700000027%
(&000000000000003800000038%)
&000000000000004400000044%
(&000000000000006200000062%)
&000000000000002900000029%[283]
Ukraina UkrainePew Research Center2015&00000000000000090000009%
(&000000000000001000000010%)
&000000000000008500000085%
(&000000000000009000000090%)
&00000000000000060000006%±4%[275][276]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc AnhEurobarometer2019&000000000000008500000085%
(&000000000000008800000088%)
&000000000000001200000012%
(&000000000000001200000012%)
&00000000000000030000003%[278]
Hoa Kỳ Hoa KỳPRRI2020&000000000000007000000070%
(&000000000000007100000071%)
&000000000000002800000028%
(&000000000000002900000029%)
&00000000000000020000002%±2.6%[314]
Uruguay UruguayAmericasBarometer2017&000000000000007500000075%&000000000000002500000025%±1.1%[274]
Venezuela VenezuelaAmericasBarometer2017&000000000000003900000039%&000000000000006100000061%±1.2%[274]
Việt Nam Việt NamiSEE2014&000000000000003400000034%
(&000000000000003900000039%)
&000000000000005300000053%
(&000000000000006100000061%)
&000000000000001300000013%[315]
Thăm dò ý kiến ​​về hôn nhân đồng giới của các lãnh thổ phụ thuộc và các thực thể dưới quốc gia
Lãnh thổ/Tiểu bangQuốc giaHãng thăm dò ý kiếnNămỦng hộPhản đốiNeutral[l]Biên độ
lỗi
Nguồn
Hồng Kông Hong KongTrung Quốc Trung QuốcChinese University of Hong Kong2019&000000000000004700000047%
(&000000000000005400000054%)
&000000000000004000000040%
(&000000000000004600000046%)
&000000000000001300000013%±3.6%[316]
Quần đảo Faroe Quần đảo FaroeĐan Mạch Đan MạchGallup Føroyar2016&000000000000006400000064%
(&000000000000006800000068%)
&000000000000003000000030%
(&000000000000003200000032%)
&00000000000000060000006%[317]
Guam GuamHoa Kỳ Hoa KỳUniversity of Guam2015&000000000000005500000055%
(&000000000000006500000065%)
&000000000000002900000029%
(&000000000000003500000035%)
&000000000000001600000016%[318]
Puerto Rico Puerto RicoPew Research Center2014&000000000000003300000033%
(&000000000000003800000038%)
&000000000000005500000055%
(&000000000000006200000062%)
&000000000000001200000012%[319]
  Bắc IrelandVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc AnhYouGov2019&000000000000005500000055%[320][321]
Bermuda BermudaGlobal Research2015&000000000000004800000048%
(&000000000000005200000052%)
&000000000000004500000045%
(&000000000000004800000048%)
&00000000000000070000007%[322]
Aguascalientes AguascalientesMéxico MexicoINEGI2017&000000000000006400000064%&000000000000003600000036%[301]
Baja California Baja CaliforniaINEGI2017&000000000000006900000069%&000000000000003100000031%[301]
Baja California Sur Baja California SurINEGI2017&000000000000005800000058%&000000000000004200000042%[301]
Campeche CampecheINEGI2017&000000000000004400000044%&000000000000005600000056%[301]
Chiapas ChiapasINEGI2017&000000000000004100000041%&000000000000005900000059%[301]
Chihuahua ChihuahuaINEGI2017&000000000000006400000064%&000000000000003600000036%[301]
Coahuila CoahuilaINEGI2017&000000000000005300000053%&000000000000004700000047%[301]
Colima ColimaINEGI2017&000000000000006100000061%&000000000000003900000039%[301]
Durango (bang) DurangoINEGI2017&000000000000006100000061%&000000000000003900000039%[301]
Guanajuato GuanajuatoINEGI2017&000000000000006100000061%&000000000000003900000039%[301]
Guerrero GuerreroINEGI2017&000000000000004600000046%&000000000000005400000054%[301]
Hidalgo (bang) HidalgoINEGI2017&000000000000005800000058%&000000000000004200000042%[301]
Jalisco JaliscoINEGI2017&000000000000006600000066%&000000000000003400000034%[301]
Mexico City Thành phố MexicoINEGI2017&000000000000007100000071%&000000000000002900000029%[301]
Michoacán MichoacánINEGI2017&000000000000005400000054%&000000000000004600000046%[301]
Morelos MorelosINEGI2017&000000000000006100000061%&000000000000003900000039%[301]
Nayarit NayaritINEGI2017&000000000000006100000061%&000000000000003900000039%[301]
Nuevo León Nuevo LeónINEGI2017&000000000000005600000056%&000000000000004400000044%[301]
Oaxaca OaxacaINEGI2017&000000000000004800000048%&000000000000005200000052%[301]
Puebla PueblaINEGI2017&000000000000006300000063%&000000000000003700000037%[301]
Querétaro QuerétaroINEGI2017&000000000000006800000068%&000000000000003200000032%[301]
Quintana Roo Quintana RooINEGI2017&000000000000006200000062%&000000000000003800000038%[301]
San Luis Potosí San Luis PotosíINEGI2017&000000000000006100000061%&000000000000003900000039%[301]
Sinaloa SinaloaINEGI2017&000000000000006200000062%&000000000000003800000038%[301]
Sonora SonoraINEGI2017&000000000000006900000069%&000000000000003100000031%[301]
México (bang) Bang MexicoINEGI2017&000000000000006600000066%&000000000000003400000034%[301]
Tabasco TabascoINEGI2017&000000000000004300000043%&000000000000005700000057%[301]
Tamaulipas TamaulipasINEGI2017&000000000000005600000056%&000000000000004400000044%[301]
Tlaxcala TlaxcalaINEGI2017&000000000000005600000056%&000000000000004400000044%[301]
Veracruz VeracruzINEGI2017&000000000000004600000046%&000000000000005400000054%[301]
Yucatán YucatánINEGI2017&000000000000005700000057%&000000000000004300000043%[301]
Zacatecas ZacatecasINEGI2017&000000000000006300000063%&000000000000003700000037%[301]

Nhiều thăm dò và nghiên cứu được thực hiện, bao gồm những công trình được hoàn tất trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Nhiều khảo sát thực hiện ở những nước phát triển trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 cho thấy việc ủng hộ hôn nhân đồng giới có xu hướng tăng ở mọi lứa tuổi, quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính, chủng tộc và tôn giáo.[323][324][325][326][327]

Thăm dò dư luận tháng 6/2013 tại 16 nước ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á-Thái Bình Dương cho thấy tỉ lệ ủng hộ việc công nhận mối quan hệ của các cặp đồng tính khá cao (73%). Cả 16 nước đều có đa phần người dân ủng hộ việc công nhận này. 72% người được hỏi nói rằng hôn nhân đồng giới không có hại gì cho xã hội, 59% ủng hộ các cặp vợ chồng đồng tính nhận con nuôi và 64% cho rằng những cặp vợ chồng đồng tính cũng có khả năng nuôi dạy con tốt như các cặp vợ chồng khác. Chỉ 14% phản đối việc công nhận mối quan hệ của các cặp đồng giới.[328][329]

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Đức, thăm dò dư luận của Ifop tháng 5 năm 2013 cho thấy 74% người Đức ủng hộ các cặp đồng tính được quyền kết hôn và nhận con nuôi.[330]

Tại Pháp, theo khảo sát năm 2015, 56% người dân Pháp phản đối hôn nhân đồng tính bất chấp đạo luật này đã được thông qua vào năm 2013, hầu hết số phản đối là tín đồ Cơ đốc giáo. Theo một cuộc khảo sát vừa được thực hiện bởi Viện Pháp về Ý kiến Cộng đồng, 22% người dân Pháp muốn đạo luật hôn nhân đồng giới bị bãi bỏ và 32% thì cho rằng hôn nhân đồng tính nên được chuyển thành "kết hợp dân sự nhưng không bao gồm việc nhận con nuôi". Tuy nhiên, tạp chí của Times của Ý khẳng định đây là một tỷ lệ cải thiện vì năm 2013, tỷ lệ phản đối là 37% nên đây là một tin tốt.[331]. Các cuộc khảo sát khác thì cho kết quả khác biệt, phần lớn người dân Pháp ủng hộ hôn nhân đồng tính. Theo kết quả của kênh khảo sát uy tín của Ủy ban châu Âu (Eurobarometer), 71% người Pháp nghĩ rằng hôn nhân đồng giới nên được cho phép trên toàn châu Âu, trong khi chỉ có 24% phản đối[332]. Một cuộc thăm dò của BVA vào tháng 6 năm 2015 cho kết quả: 56% người Pháp ủng hộ cho quyền bình đẳng của các cặp vợ chồng đồng tính, 67% ủng hộ hôn nhân đồng tính (tăng 9% so với năm 2013), gần 6 trong số 10 người dân Pháp ủng hộ các quyền được áp dụng cho các cặp vợ chồng đồng tính.[333]

Thăm dò dư luận Ipsos tháng 5/2013 cho thấy 78% người Na Uy ủng hộ hôn nhân đồng tính.[334] Tại Thụy Điển, 81% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính và thêm 9% ủng hộ một hình thức công nhận các cặp đôi đồng tính khác.[334]

Thăm dò dư luận YouGov tháng 1/2013 cho thấy 79% người Đan Mạch ủng hộ hôn nhân đồng tính và 16% phản đối.[335]

Thăm dò dư luận Ifop tháng 5/2013 tại Thụy Sĩ cho thấy 63% người Thụy Sĩ ủng hộ quyền kết hôn và nhận con nuôi chung của người đồng tính.[330]

Tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới tại Phần Lan tăng mạnh trong thập kỷ trước, từ 45% (2006), 54 % (2010), 57% (2013) cho đến 65% vào đầu năm nay.[336][337]

Thăm dò dư luận tháng 10/2014 tại Italia cho thấy 55% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính.[338]

Thăm dò dư luận tháng 4/2013 tại Luxembourg cho thấy 83% người dân ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới. Luật thừa nhân hôn nhân giữa những người cùng giới tính cũng như quyền nhận con nuôi của họ được Quốc hội Luxembourg thông qua ngày 19/06/2014 với tỉ lệ ủng hộ áp đảo 56 phiếu thuận và 4 phiếu chống.[339][340]

76% người Tây ban Nha ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới, 18% phản đối.[341]

Thăm dò dư luận tháng 11/2013 cho thấy 61% người Áo ủng hộ hôn nhân đồng tính.[342] Thăm dò dư luận tháng 5/2014, 73% người Áo ủng hộ hôn nhân đồng giới.[343][344]

85% người Hà Lan ủng hộ quyền kết hôn và nhận con nuôi của người đồng tính.[330]

Thăm dò dư luận tháng 2/2015 tại Slovenia cho thấy 59% người dân ủng hộ hôn nhân đồng giới.[345]

Thăm dò dư luận tháng 2/2014, 76% người Ireland ủng hộ bình đẳng hôn nhân.[346] Tại Scotland, thăm dò dư luận năm 2010 của The Scottish Social Attitudes Survey cho thấy 61% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính, 19% phản đối.[347] Trong cuộc thăm dò dư luận tháng 6/2012 của Ipsos MORI, 64% người Scotland ủng hộ hôn nhân đồng tính.[348] Thăm dò dư luận vào tháng 12/2014 của The Scottish Social Attitudes Survey cho thấy 68% người Scotland ủng hộ hôn nhân đồng tính, chỉ 17% phản đối. Đa phần người theo các tôn giáo lớn và phần lớn người dân ở các độ tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính.[349]

Năm 2014, Thủ tướng Anh David Cameron gửi lời đến toàn thể người dân nhân sự kiện các cặp đôi đồng tính tại nước này đã có thể kết hôn như những cặp đôi dị tính khác: "Cuối tuần này đánh dấu một thời điểm quan trọng cho đất nước của chúng ta. Lần đầu tiên, các cặp đôi được phép kết hôn sẽ không chỉ bao gồm đàn ông và phụ nữ nữa mà còn là giữa cặp nam-nam và nữ-nữ với nhau. Sau tất cả các cuộc vận động, cuối cùng chúng ta cũng đã đi đến cái đích là hôn nhân bình đẳng. Nói đơn giản hơn, tại Anh, việc bạn là đồng tính hay dị tính sẽ chẳng còn là vấn đề nữa. Nhà nước công nhận mối quan hệ của bạn đều bình đẳng như nhau."[350][351] Lesley Carig, Đại sứ Anh tại Việt Nam, phát biểu tại 1 lễ cưới đồng tính được tổ chức ở Đại sứ quán Anh: "Thật tuyệt vời khi có thể chứng kiến lễ cưới đồng tính đầu tiên tại Việt Nam. Ngày hôm nay, chúng ta không chỉ ăn mừng cho cặp đôi hạnh phúc này mà còn vì sự bình đẳng cho tất cả mọi người, cho những giá trị mà nước Anh tin tưởng!".[352]

Trong khi đó, tại các quốc gia vùng Đông Âu như Nga, Ucraina, Belarus... tỷ lệ phản đối hôn nhân đồng tính lại rất cao.

  • Tại LitvaUcraina, chỉ có 28% người dân chấp nhận sự hiện diện của người đồng tính trong xã hội[353]
  • Một cuộc khảo sát tiến hành ở Croatia vào năm 2014 cho thấy: 45,4% người được hỏi phản đối mạnh mẽ và 15,5% phản đối vừa phải việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Croatia. Chỉ 10,1% là mạnh mẽ ủng hộ, 6,9% ủng hộ vừa phải, và 21,2% là trung lập[354]

Châu Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thăm dò ý kiến về vấn đề Hôn nhân đồng giới tại  Hoa Kỳ
Cơ quan thăm dòNgày thángĐồng ýChống lại
Gallup17.03.1996[355]27 %68 %
Gallup09.02.1999[355]35 %62%
Gallup04.05.2004[355]42 %55 %
Gallup25.08.2005[355]37 %59 %
Gallup11.05.2006[355]39 %58 %
Gallup13.05.2007[355]46 %53 %
Gallup11.05.2008[355]40 %56 %
Gallup10.05.2009[355]40 %57 %
Gallup06.05.2010[355]44 %53 %
Gallup08.05.2011[355]53 %44 %
Gallup18.12.2011[355]48 %48 %
Gallup06.05.2012[355]50 %48 %
Gallup29.11.2012[355]53 %46 %
Washington Post/ABC10.03.2013[356]58 %36 %
Gallup07.05.2013[355]53 %45 %
Gallup14.07.2013[355]54 %43 %

Một thăm dò gần đây ở Hoa Kỳ cho thấy có sự gia tăng trong cộng đồng người Mỹ việc ủng hộ hôn nhân đồng giới. Khi những người lớn tuổi được hỏi vào năm 2005 là họ có nghĩ "hôn nhân giữa cho người đồng tính có nên hoặc không nên được luật pháp công nhận và có quyền lợi như hôn nhân truyền thống khác", 28% đồng ý trong khi 68% không đồng ý (4% còn lại không chắc chắn). Khi được hỏi vào tháng 3 năm 2013, 50% ủng hộ trong khi 41% chống đối và 9% không chắc chắn.[357] Nhiều thăm dò và nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy người ủng hộ tăng lên khi có sự gia tăng về trình độ học vấn, người trẻ hơn thường ủng hộ hơn người già hơn.[358][359][360][361][362]

Một cuộc biểu tình ở nhà thờ Unitarian church để ủng hộ bình đẳng hôn nhân tại bang New Jersey, Hoa Kỳ.

83% người Do Thái ở Mỹ ủng hộ hôn nhân đồng tính, tỷ lệ cao nhất trong số các nhóm sắc tộc ở Mỹ.[363] Khảo sát những người theo Công giáo ở Mỹ của The Pew Research Centre vào năm 2014 cho thấy tỷ lệ ủng hộ quyền kết hôn của người đồng tính rất cao: 85% người Công giáo từ 18-29 tuổi chấp nhận người đồng tính và 75% ủng hộ hôn nhân đồng tính.[364]

Một điều tra của tờ USA Today và viện Gallup năm 2009 thì có ủng hộ là 40% trong khi vẫn còn 57% phản đối[365]. Con số ủng hộ này ngày càng tăng, thăm dò dư luận tháng 2/2015 cho thấy tỷ lệ người Mỹ ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới cao kỷ lục là 60%, 46% người Mỹ có quen biết một cặp đồng tính đã kết hôn.[366][367] Thế hệ trẻ của Mỹ có tỷ lệ ủng hộ bình đẳng hôn nhân rất cao: Thăm dò dư luận của ABC News/Washington Post cho thấy 81% người Mỹ dưới 30 tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính, 58% người Mỹ nói chung ủng hộ hôn nhân đồng giới.[368][369] Đây là một sự thay đổi rất lớn so với cuộc thăm dò dư luận cách đây 1 thập kỷ trong đó số người Mỹ phản đối hôn nhân đồng tính là 55%, trong khi số ủng hộ là 37%.[370]

Đại học Quinnipiac đã tiến hành các cuộc điều tra về thái độ dân chúng Mỹ với hôn nhân đồng giới vào cuối năm 2015 [371]. Tất cả các kết quả đều cho thấy tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng tính tăng đều theo thời gian và hiện chiếm tỷ lệ quá bán:

  • Bạn có nghĩ rằng người đồng tính kết hôn là hợp pháp hay không hợp pháp? Kết quả: Hợp pháp (56%), không hợp pháp (34%), không chắc chắn (10%).
  • Bạn có ủng hộ hay phản đối các cặp đồng tính kết hôn? Kết quả: Hỗ trợ (55%), phản đối (38%), không chắc chắn (7%)
  • Bạn nghĩ rằng quan chức chính phủ nên hay không nên cấp giấy phép kết hôn cho các cặp đồng tính? Kết quả: Nên (62%), không nên (32%), không chắc chắn (6%).
  • Nếu quan chức chính phủ nói việc cấp giấy phép hôn thú đồng giới vi phạm niềm tin tôn giáo của họ, bạn nghĩ họ nên hay không nên cấp phép? Kết quả: Nên (55%), không nên (39%), không chắc chắn (6%).
  • Khi có một cuộc xung đột giữa tín ngưỡng tôn giáo với việc đối xử bình đẳng theo pháp luật, bạn nghĩ điều gì quan trọng hon? Kết quả: Niềm tin tôn giáo (19%), quyền bình đẳng theo pháp luật (74%), không chắc chắn (6%).
  • Sau khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thông qua luật hôn nhân đồng giới trên toàn liên bang, có một thư ký quận Kentucky đã từ chối cấp giấy phép hôn nhân đồng tính vì niềm tin tôn giáo. Bạn nghĩ rằng cô ấy nên hay không nên cấp giấy hôn thú cho các cặp đồng tính? Kết quả: Nên (63%), không nên (33%), không chắc chắn (4%)...

Các nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

Thăm dò dư luận năm 2012 tại Canada cho thấy 66,4% người dân ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Tỷ lệ ủng hộ cao nhất ở Quebec (72%) và British Columbia (70.2%), thấp nhất ở Alberta (45.6%).[372]

Đông đảo người ủng hộ thông qua hôn nhân đồng giới ở Buenos Aires, thủ đô Argentina

Thăm dò dư luận tháng 8 năm 2012 tại Chile cho thấy 54,9% người Chile ủng hộ hôn nhân đồng tính và 40,7% không ủng hộ. Tân Tổng thống Chile Michelle Bachelet từng hứa sẽ công nhận hôn nhân đồng tính trong chiến dịch tranh cử của mình.[373]

Thăm dò dư luận tháng 7 năm 2013 tại Mexico cho thấy 52% người Mexico ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, trong đó tỷ lệ ủng hộ của người theo đạo Công giáo là 52% và người không theo tôn giáo là 62%.[374]

Tại Cuba, bản dự thảo Hiến pháp mới năm 2018 từng có điều khoản sửa đổi nhằm cho phép công nhận hôn nhân đồng giới, nhưng sau đó điều khoản này đã bị loại bỏ do đại đa số người dân Cuba đã phản đối khi bản dự thảo được tham vấn ý kiến nhân dân. Quốc hội Cuba cho biết trong số 192.408 ý kiến phát biểu, có đến 158.376 ý kiến đòi giữ nguyên quy định về hôn nhân như Hiến pháp cũ (chỉ cho phép hôn nhân giữa 1 nam và 1 nữ). Do đó để tôn trọng quan điểm của nhân dân, ủy ban soạn thảo Hiến pháp Cuba đã xóa bỏ điều khoản này[375]

Jamaica là quốc gia có tỉ lệ người dân phản đối hôn nhân đồng tính rất cao. Theo một cuộc thăm dò dư luận năm 2011 tại quốc gia này, 85,2% người được hỏi phản đối hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, 82,2% người được hỏi cho rằng đồng tính luyến ái nam là vô đạo đức, 75,2% tin rằng đồng tính luyến ái nữ là vô đạo đức, và 75,3% tin rằng quan hệ lưỡng tính là vô đạo đức [376]. Trong một cuộc thăm dò ý kiến năm 2008 với câu hỏi "Dù bạn có đồng ý hay không đồng ý với lối sống của họ, bạn có nghĩ rằng những người đồng tính luyến ái nên được hưởng các quyền và đặc quyền cơ bản giống như những người khác ở Jamaica không?" 26% trả lời "có", 70% trả lời "không"[377].

Châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc giaỦng hộPhản đối
Trung Đông
Israel47%40%
Liban18%80%
Thổ Nhĩ Kỳ9%78%
Palestine4%93%
Ai Cập3%95%
Jordan3%97%
Tunisia2%94%
Đông và Nam Á
Philippines73%26%
Nhật bản54%36%
Hàn Quốc39%59%
Trung Quốc21%57%
Malaysia9%86%
Indonesia3%93%
Pakistan2%87%

Đa số các nước theo đạo Hồi tỉ lệ phản đối hôn nhân đồng tính rất cao. Ở Đông Nam Á, MalaysiaIndonesia có tỉ lệ phản đối hôn nhân đồng tính lần lượt là 86% và 93%. Ở Trung Đông, đa số các nước phản đối hôn nhân đồng tính với tỉ lệ rất cao từ 78% ở Thổ Nhĩ Kỳ cho đến 97% ở Jordan.[378] Tuy nhiên ở một số nước theo đạo Hồi như Albania, Lebanon, và Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã có những cuộc tranh luận về việc công nhận hôn nhân đồng giới.[379]

Đài Loan là nước có tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng tính cao nhất châu Á với 68% người dân ủng hộ.[380][381][382][383]

59% người dân Israel ủng hộ hôn nhân đồng tính. 89% người Do Thái thế tục ủng hộ quyền bình đẳng đầy đủ của người đồng tính.[384] Tổng thống Israel Shimon Peres cũng ủng hộ quyền kết hôn của người đồng tính.[385][386][387]

Ở Hồng Kông, 59% số người được hỏi đã phản đối hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới (trong khi tỉ lệ ủng hộ chỉ là 33,3%), theo một cuộc khảo sát được tiến hành bởi Đảng Tự do [388].

Một cuộc khảo sát đã được tiến hành với hơn 1.300 người ở Singapore vào năm 2019 cho thấy: 43% người tham gia khảo sát đã phản đối ý tưởng hợp pháp hóa việc sống chung của các cặp đồng tính dưới hình thức kết hợp dân sự, còn tỉ lệ ủng hộ chỉ là 34% [389][390].

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21/11/2013, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng Quốc hội Việt Nam cần sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình để bảo đảm cho các cặp đồng tính cũng được hưởng đầy đủ tất cả các quyền như mọi cặp vợ chồng khác, trong đó có quyền kết hôn, thủ tục đăng ký và được pháp luật bảo hộ đầy đủ về tài sản và con cái. Ông Brad Adams, Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói: "Việt Nam đang tăng cường các quyền cho những cặp đồng tính, nhưng vẫn cần đạt tới bước cuối cùng để đảm bảo công bằng cho tất cả mọi người. Những điều luật có nội dung mập mờ có thể gây kỳ thị đối với những người có quan hệ đồng giới, song giới và chuyển đổi giới. Giới chức chính quyền cần có can đảm xác lập sự công bằng về hôn nhân trong luật pháp Việt Nam."[391]

Đại diện tổ chức Phụ nữ Liên Hợp Quốc, bà Shoko Ishikawa phát biểu: "Việt Nam cũng có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực chính sách và lập pháp. Các khái niệm về bình đẳng, tự do và không phân biệt đối xử được bảo đảm trong bản Hiến pháp sửa đổi... Trong quá trình xem xét sửa đổi luật hôn nhân và gia đình hiện nay, dường như việc cấm hôn nhân đồng giới sẽ được bãi bỏ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn mong muốn bộ luật này đi xa hơn nữa để bảo đảm quyền của các cặp đôi đồng giới được tương tự như các cuộc hôn nhân khác."[392]

Theo kết quả điều tra quốc gia về "Quan điểm xã hội với hôn nhân cùng giới" được Viện Xã hội học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Viện Nghiên cứu xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) công bố ngày 26 tháng 3 năm 2014, khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố tại Việt Nam gồm: Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Đắk Lắk, tp. Hồ Chí Minh, An Giang, Sóc Trăng với sự tham gia của 5.300 người dân, có tới 90% người dân biết về đồng tính và việc sống chung như vợ chồng giữa hai người cùng giới tính (62%). Một tỷ lệ lớn (30%) người dân có quen ai đó là người đồng tính (họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm…), 33,7% ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới, số còn lại không đồng ý. Về việc công nhận quyền sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, số người ủng hộ là 41,2%. Hình thức sống chung cùng giới nên được hợp pháp hóa theo dạng "kết hợp dân sự" hoặc "đăng ký sống chung như vợ chồng".[393]

Ngày 1 tháng 1 năm 2015, một chỉnh sửa mới từ luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, trong đó quy định sẽ không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, coi như hủy bỏ luật cấm năm 2000. Tuy nhiên, theo Điều 8 về "Điều kiện kết hôn" có ghi "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính". Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng sẽ không được pháp luật giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra khi chung sống[394][395]

Châu Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Thăm dò dư luận tháng 12 năm 2012 tại New Zealand cho thấy 59% người New Zealand ủng hộ hôn nhân đồng tính.[396]

Thăm dò dư luận tháng 7 năm 2014 tại Australia cho thấy 72% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính, chỉ 21% phản đối. Đa phần người theo các tôn giáo lớn và phần lớn người Úc ở các độ tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính. Tỷ lệ ủng hộ cao nhất là ở những người đã có con cái với 85% ủng hộ.Tất cả các bang đều có phần lớn người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính.[397][398][399]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận tại chính nước Úc cũng như trong các vùng phụ thuộc của Đảo Norfolk, Đảo ChristmasQuần đảo Cocos, tuân theo luật pháp của Úc.
  2. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và được pháp luật thừa nhận ở Đan Mạch, Quần đảo FaroeGreenland, cùng tạo nên Vương quốc Đan Mạch.
  3. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và công nhận trên khắp Ecuador, nhưng những cặp vợ chồng như vậy không được coi là kết hôn cho mục đích nhận con nuôi và không được nhận con nuôi.
  4. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận ở thủ đô nước Pháp cũng như ở tất cả các khu vực hải ngoại và thuộc địa của Pháp, tuân theo một quy tắc pháp lý duy nhất.
  5. ^ Hôn nhân đồng giới hợp pháp hoặc đang chờ xử lý ở tất cả các khu vực pháp lý, mặc dù quy trình này không phải ở đâu cũng đơn giản như hôn nhân khác giới và không phải lúc nào cũng bao gồm quyền nhận con nuôi.
  6. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận ở Hà Lan, bao gồm các thành phố tự trị của Bonaire, Sint Eustatius và Saba. Các cuộc hôn nhân đồng giới ít được thừa nhận ở Aruba, Curaçao và Sint Maarten, những đảo tạo nên Vương quốc Hà Lan.
  7. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và được luật pháp công nhận ở New Zealand, nhưng không hợp pháp ở các vùng thuộc quyền sở hữu của Tokelau, cũng như ở Quần đảo CookNiue, các vùng cùng tạo nên Vương quốc New Zealand.
  8. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và công nhận ở Đài Loan, nhưng không giống như các cặp kết hôn khác giới, các cặp kết hôn đồng giới không thể nhận những đứa con không có quan hệ huyết thống như một cặp vợ chồng mà không có lệnh của tòa án, mặc dù một bên vợ hoặc chồng có thể nhận con nuôi của người kia.
  9. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận ở tất cả các vùng của Vương quốc Anh và trong vùng hải ngoại không thuộc Caribbean, nhưng không được hợp phát tại vùng sở hữu Caribbean của quốc gia này, cụ thể là Anguilla, Bermuda, Quần đảo Virgin thuộc Anh, Quần đảo Cayman, MontserratQuần đảo Turks và Caicos.
  10. ^ Hôn nhân đồng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận ở tất cả năm mươi tiểu bang của Hoa Kỳ và ở Đặc khu Columbia, ở tất cả các lãnh thổ hải ngoại ngoại trừ Samoa thuộc Mỹ, và ở tất cả các quốc gia bộ lạc không có luật hôn nhân riêng, cũng như ở hầu hết các dân tộc như vậy. Vùng ngoại lệ lớn nhất trong số hàng chục hoặc còn gọi là ngoại lệ trong số các khu bảo tồn liên bang là NavajoGila River, và lớn nhất trong số các khu vực có chủ quyền chung của Bộ lạc Oklahoma là Creek, Choctaw, ChickasawCitizen Potawatomi. Các chính thể này cấm hôn nhân đồng giới và không công nhận hôn nhân từ các khu vực pháp lý khác, mặc dù các thành viên vẫn có thể kết hôn theo luật tiểu bang và được hưởng tất cả các quyền hôn nhân theo luật tiểu bang và liên bang.
  11. ^ a b Bởi vì một số cuộc thăm dò không báo cáo 'chưa biết', những người làm được liệt kê với tỷ lệ có/không đơn giản trong ngoặc đơn, do đó, số liệu của họ có thể được so sánh.
  12. ^ a b Bao gồm: Trung lập; Không biết; Không có câu trả lời; Khác; Từ chối.
  1. ^ Hợp pháp ở các thành phố tự trị của Bisbee, Clarkdale, Cottonwood, Jerome, Sedona và Tucson.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Same Sex Marriage States 2022”. World Population Review. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2022. Same-sex marriage is the marriage of people of the same sex or gender
  2. ^ https://www.bopa.ad/bopa/034098/Pagines/CGL20220810_11_06_09.aspx
  3. ^ Williams, CA., Roman Homosexuality: Second Edition, Oxford University Press, 2009, p. 280, p. 284.
  4. ^ William N. Eskridg Jr. and Christopher R. Riano, "Marriage Equality: From Outlaws to In-Laws", Yale University Press (2020), Chapter 24.
  5. ^ a b Winter, Caroline (4 tháng 12 năm 2014). “In 14 years, same-sex marriage has spread round the world”. Bloomberg. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2022.
  6. ^ “Same-sex Oklahoma couple marries legally under tribal law”. KOCO. 26 tháng 9 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013.
  7. ^ Multiple sources:
  8. ^ “Brief of Amici Curiae American Anthropological Association et al., supporting plaintiffs-appellees and urging affirmance – Appeal from United States District Court for the Northern District of California Civil Case No. 09-CV-2292 VRW (Honorable Vaughn R. Walker)” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  9. ^ a b American Anthropological Association (2004). “Statement on Marriage and the Family”. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2015.
  10. ^ Handbook of Gay, Lesbian, Bisexual, and Transgender Administration and Policy — Page 13, Wallace Swan – 2004
  11. ^ Cline, Austin (16 tháng 7 năm 2017). “Common Arguments Against Gay Marriage”. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2017.
  12. ^ “Arguments for and against gay marriage”. Debating Europe (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2022.
  13. ^ Multiple sources:
  14. ^ “Marriage Equality”. Garden State Equality. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012.
  15. ^ “Marriage 101”. Freedom to Marry. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  16. ^ Pratt, Patricia (29 tháng 5 năm 2012). “Albany area real estate and the Marriage Equality Act”. Albany Examiner. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2012. On July 24, 2011 the Marriage Equality Act became a law in New York State forever changing the state's legal view of what a married couple is.
  17. ^ “Vote on Illinois marriage equality bill coming in January: sponsors”. Chicago Phoenix. 13 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012.
  18. ^ “Commission endorses marriage and adoption equality”. Human Right Commission New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012.
  19. ^ Mulholland, Helene (27 tháng 9 năm 2012). “Ed Miliband calls for gay marriage equality”. The Guardian. London, UK. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012.
  20. ^ Ring, Trudy (20 tháng 12 năm 2012). “Newt Gingrich: Marriage Equality Inevitable, OK”. The Advocate. Los Angeles. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2012. He [Newt Gingrich] noted to HuffPo that he not only has a lesbian half-sister, LGBT rights activist Candace Gingrich, but has gay friends who've gotten married in Iowa, where their unions are legal. Public opinion has shifted in favor of marriage equality, he said, and the Republican Party could end up on the wrong side of history if it continues to go against the tide.
  21. ^ @apstylebook. “The term same-sex marriage is preferred over gay marriage. In places where it's legal, same-sex marriage is no different than other marriages, so the term should be used only when germane and needed to distinguish from marriages between heterosexual couples. #APStyleChat” (Tweet) – qua Twitter.
  22. ^ Fedorak, Shirley A. (2008). Anthropology matters!. [Toronto], Ont.: University of Toronto Press. tr. Ch. 11, p. 174. ISBN 978-1442601086.
  23. ^ a b Gough, Kathleen E. (Jan–Jun 1959). “The Nayars and the Definition of Marriage”. The Journal of the Royal Anthropological Institute of Great Britain and Ireland. 89 (1): 23–34. doi:10.2307/2844434. JSTOR 2844434.
  24. ^ Murray, Stephen O.; Roscoe, Will (2001). Boy-wives and female husbands : studies of African homosexualities (ấn bản 1). New York: St. Martin's. ISBN 978-0312238292. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
  25. ^ Njambi, Wairimu; O'Brien, William (Spring 2001). “Revisiting "Woman-Woman Marriage": Notes on Gikuyu Women”. NWSA Journal. 12 (1): 1–23. doi:10.1353/nwsa.2000.0015. S2CID 144520611. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  26. ^ “Dictionaries take lead in redefining modern marriage”. The Washington Times. 24 tháng 5 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  27. ^ “Webster Makes It Official: Definition of Marriage Has Changed”. American Bar Association. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  28. ^ Redman, Daniel (7 tháng 4 năm 2009). “Noah Webster Gives His Blessing: Dictionaries recognize same-sex marriage—who knew?”. Slate. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  29. ^ “The Divine Institution of Marriage”. The Church of Jesus Christ of Latter-day Saints. 13 tháng 8 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  30. ^ “Marriage Protection Sunday: Churches encouraged to address 'gay marriage'. Baptist Press. 19 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011.
  31. ^ Rabbi Joel Roth. Homosexuality Lưu trữ 24 tháng 8 2017 tại Wayback Machine rabbinicalassembly.org 1992.
  32. ^ Shaw criticizes Boswell's methodology and conclusions as disingenuousShaw, Brent (tháng 7 năm 1994). “A Groom of One's Own?”. The New Republic: 43–48. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009.
  33. ^ Boswell, John (1995). Same-sex unions in premodern Europe. New York: Vintage Books. tr. 80–85. ISBN 978-0-679-75164-9. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
  34. ^ Frier, Bruce. “Roman Same-Sex Weddings from the Legal Perspective”. University of Michigan. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  35. ^ Bunson, M., Encyclopedia of the Roman Empire, Infobase Publishing, 2009, p. 259.
  36. ^ “Cassius Dio — Epitome of Book 80”. Penelope.uchicago.edu. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  37. ^ Herodian. “Herodian of Antioch, History of the Roman Empire (1961) pp.135-152. Book 5”. Tertullian.org. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  38. ^ Scarre, Chris (1995). Chronicles of the Roman Emperors. London: Thames and Hudson Ltd. tr. 151. ISBN 978-0-500-05077-4. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
  39. ^ Williams, CA., Roman Homosexuality: Second Edition, Oxford University Press, 2009, pp. 279–284.
  40. ^ Williams, CA., Roman Homosexuality: Second Edition, Oxford University Press, 2009, p. 284.
  41. ^ a b Nero missed her so greatly that, on learning of a woman who resembled her, he sent for her and kept her; but later he caused a boy of the freedmen, whom he used to call Sporus, ... "he formally "married" Sporus, and assigned the boy a regular dowry according to contract;" q.v., Suetonius Nero 28; Dio Cassius Epitome 62.28
  42. ^ “Bill Thayer's Web Site”. Penelope.uchicago.edu. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  43. ^ “Cassius Dio — Epitome of Book 62”. Penelope.uchicago.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  44. ^ Corbett, The Roman Law of Marriage (Oxford, 1969), pp. 24–28; Treggiari, Roman Marriage (Oxford, 1991), pp. 43–49.; "Marriages where the partners had conubium were marriages valid in Roman law (iusta matrimonia)" [Treggiari, p. 49]. Compare Ulpian (Tituli Ulpiani) 5.3–5: "Conubium is the capacity to marry a wife in Roman law. Roman citizens have conubium with Roman citizens, but with Latins and foreigners only if the privilege was granted. There is no conubium with slaves"; compare also Gaius (Institutionum 1:55–56, 67, 76–80).
  45. ^ Treggiari, Roman Marriage (Oxford, 1991), p. 5.
  46. ^ Kuefler, Mathew (2007). “The Marriage Revolution in Late Antiquity: The Theodosian Code and Later Roman Marriage Law”. Journal of Family History. 32 (4): 343–370. doi:10.1177/0363199007304424. S2CID 143807895.
  47. ^ Eidolon, 2015, Michael Fontaine, Associate Professor of Classics and Assistant Dean, Cornell University "nubit…feminam" for "cubit...infamen," and the Law does not provide for it."
  48. ^ George Bryan Souza. The Boxer Codex: Transcription and Translation of an Illustrated Late Sixteenth-Century Spanish Manuscript Concerning the Geography, History and ... (European Expansion and Indigenous Response) Annotated Edition. Brill; Annotated edition (November 20, 2015). 148 Lưu trữ 14 tháng 8 2021 tại Wayback Machine
  49. ^ “How Same-Sex Marriage Came to Be”. Harvard Magazine. March–April 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  50. ^ “The secret history of same-sex marriage”. The Guardian. 23 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  51. ^ Rule, Sheila (2 tháng 10 năm 1989). “Rights for Gay Couples in Denmark”. New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2013.
  52. ^ “The Dutch went first in 2001; who has same-sex marriage now?”. Associated Press. 28 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2021.
  53. ^ “Archived copy” (PDF). www.congresozac.gob.mx. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2022.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  54. ^ “Archived copy”. www.congresozac.gob.mx. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2022.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  55. ^ “Czech lawmakers give nod to same-sex marriage, final vote uncertain”. Reuters (bằng tiếng Anh). 29 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2021.
  56. ^ Cyprus Digest, Marriage for LOATKI + couples: The SYRIZA bill was submitted – What does it provide for childbearing June 19, 2022
  57. ^ “Presentarán iniciativa de ley para que el matrimonio igualitario sea legal en Honduras”. 18 tháng 5 năm 2022.
  58. ^ “NCP's Supriya Sule brings Bill to legalise same-sex marriage”. The Indian Express (bằng tiếng Anh). 2 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2022.
  59. ^ “Motion für Ehe für alle im Novemberlandtag”.
  60. ^ “Delegates sponsor bill to legalize same-sex marriage on Navajo Nation”. Daily-times.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2022.
  61. ^ “Presentan proyecto de ley sobre el matrimonio igualitario entre personas del mismo sexo”. elcomercio.pe. 23 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2022.
  62. ^ “Diputada plantea iniciativa para el matrimonio civil igualitario en la Asamblea Nacional”. El Acarigueño (bằng tiếng Tây Ban Nha). 24 tháng 2 năm 2022.
  63. ^ “Marriage law amendments now up for public consultation”. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  64. ^ Јавне консултације за израду текста Нацрта закона о истополним заједницама
  65. ^ “Lithuanian MPs propose civil union as compromise on same-sex partnership”. www.baltictimes.com. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2022.
  66. ^ Anna Kholodnova (2 tháng 8 năm 2022). “Zelensky responded to the petition on the legalization of same-sex marriages in Ukraine”. Бабель.
  67. ^ “Padilla wants same-sex unions institutionalized”.
  68. ^ “UKIP and Tories abstain on EU motion to recognise same-sex marriage”. PinkNews. 13 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  69. ^ “Texts adopted - Thursday, 12 March 2015 - Annual report on human rights and democracy in the world 2013 and the EU policy on the matter - P8_TA-PROV(2015)0076”. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  70. ^ “Annual report on human rights and democracy in the world 2013 and the EU policy on the matter”. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  71. ^ Sheila Rule: Rights for Gay Couples in Denmark - New York Times. Published: 2 October 1989. Accessed: 7 June 2012
  72. ^ “Same-Sex Marriage Around the World”. Pew Research Center. 17 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2019.
  73. ^ “Canada passes bill to legalize gay marriage”. The New York Times. 29 tháng 6 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013.
  74. ^ a b c “HUDOC - European Court of Human Rights”. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  75. ^ Buyse, Antoine (24 tháng 6 năm 2010). “Strasbourg court rules that states are not obliged to allow gay marriage”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2013.
  76. ^ Avram, Marieta (2016). Drept civil Familia [Civil law Family] (bằng tiếng Romanian). Bucharest: Editura Hamangiu. ISBN 978-606-27-0609-8.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  77. ^ Booker, Christopher (9 tháng 2 năm 2013). “Gay marriage: the French connection”. The Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2013.
  78. ^ Clarke, Jamie (6 tháng 6 năm 2013). “Gay marriage politically, rather than ethically motivated”. So So Gay. So So Gay Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2013.
  79. ^ “Sir Nicholas Bratza”. Press Complaints Commission. Press Complaints Commission. 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2013.
  80. ^ “European Convention on Human Rights” (PDF). ECHR.coe.int. European Court of Human Rights. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2015.
  81. ^ “EU court backs residency rights for gay couple in Romania – AP”. Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  82. ^ “Same-sex spouses have EU residence rights, top court rules – BBC”. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  83. ^ “Texts adopted - LGBTIQ rights in the EU - Tuesday, 14 September 2021”. www.europarl.europa.eu (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2021.
  84. ^ “MEPs condemn failure to respect rights of same-sex partners in EU”. The Guardian (bằng tiếng Anh). 14 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2021.
  85. ^ "Major Advance for Marriage Equality and Gender Identity Rights in Latin America". San Francisco Bay Times, 2018 January 29”. Sfbaytimes.com. 25 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2018.
  86. ^ “Worldwide Marriage Equality Watch List”. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018.
  87. ^ “Panama Supreme Court judge withdraws draft ruling against marriage”. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2018.
  88. ^ “LGTBI anuncia presión a Corte para aceptar unión igualitaria y habrá 'guerra'. Hoy (Paraguay). 12 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2018.
  89. ^ “Tribunal Constitucional debate reconocimiento de matrimonio gay realizado en México”. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2018.
  90. ^ “UN Secretary-General Bulletin” (PDF). United Nations. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  91. ^ “Jobs — Compensation & Benefits”. The World Bank Group. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2007.
  92. ^ Towle, Andy (13 tháng 11 năm 2008). “NYC Protest and Civil Rights March Opposing Proposition 8”. Towleroad. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  93. ^ Williams, Steve. “Which Countries Have Legalized Gay Marriage?”. Care2.com (news.bbc.co.uk as source). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012.
  94. ^ “Loi du 9 juillet 2004 relative aux effets légaux de certains partenariats. - Legilux”. Eli.legilux.public.lu. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  95. ^ “Loi n° 99-944 du 15 novembre 1999 relative au pacte civil de solidarité”. Legifrance.gouv.fr (bằng tiếng Pháp). 12 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  96. ^ “WETTEN, DECRETEN, ORDONNANTIES EN VERORDENINGEN LOIS, DECRETS, ORDONNANCES ET REGLEMENTS” (PDF). Ejustice.jkust.fgov.be. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  97. ^ “Civil Partnership Act 2004”. Legislation.gov.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017.
  98. ^ “Same-Sex Marriage, Civil Unions and Domestic Partnerships”. National Conference of State Legislatures. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012.
  99. ^ Ramstack, Tom (11 tháng 1 năm 2010). “Congress Considers Outcome of D.C. Gay Marriage Legislation”. AHN. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2010.
  100. ^ Gender and Language in Sub-Saharan Africa, 2013:35
  101. ^ Igwe, Leo (19 tháng 6 năm 2009). “Tradition of same gender marriage in Igboland”. Nigerian Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2010.
  102. ^ “Same-sex marriage and children's well-being: Research roundup”. Journalist's Resource. 26 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015.
  103. ^ Raifman, Julia; Moscoe, Ellen; Austin, S. Bryn; McConnell, Margaret (2017). “Difference-in-Differences Analysis of the Association Between State Same-Sex Marriage Policies and Adolescent Suicide Attempts”. JAMA Pediatrics. 171 (4): 350–356. doi:10.1001/jamapediatrics.2016.4529. PMC 5848493. PMID 28241285.
  104. ^ “Same-Sex Marriage Legalization Linked to Reduction in Suicide Attempts Among High School Students”. Johns Hopkins University. 20 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2018.
  105. ^ “Study: Teen suicide attempts fell as same-sex marriage was legalized”. USA Today. 20 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
  106. ^ “Same-sex marriage laws linked to fewer youth suicide attempts, new study says”. PBS. 20 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2018.
  107. ^ “Same-sex marriage laws tied to fewer teen suicide attempts”. Reuters. 23 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2018.
  108. ^ a b “Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association” (PDF). 2006. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2009.
  109. ^ American Psychological Association (2004). “Resolution on Sexual Orientation and Marriage” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010.
  110. ^ a b Pawelski, J.G.; Perrin, E.C.; Foy, J.M.; Allen, C.E.; Crawford, J.E.; Del Monte, M.; Kaufman, M.; Klein, J.D.; Smith, K.; Springer, S.; Tanner, J.L.; Vickers, D.L. (2006). “The Effects of Marriage, Civil Union, and Domestic Partnership Laws on the Health and Well-being of Children”. Pediatrics. 118 (1): 349–64. doi:10.1542/peds.2006-1279. PMID 16818585.
  111. ^ Herek, Gregory M. "Legal recognition of same-sex relationships in the United States: A social science perspective." American Psychologist, Vol 61(6), September 2006, pp. 607–21.
  112. ^ Contact: Elaine Justice: 404.727.0643. “Study Links Gay Marriage Bans to Rise in HIV infections”. Emory University. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  113. ^ Peng, Handie. “The Effect of Same-Sex Marriage Laws on Public Health and Welfare”. Userwww.service.emory.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012.
  114. ^ Francis, AM; Mialon, HM (tháng 3 năm 2010). “Tolerance and HIV” (PDF). Journal of Health Economics. 29 (2): 250–267. doi:10.1016/j.jhealeco.2009.11.016. PMID 20036431. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010.
  115. ^ Hasin, Deborah. “Lesbian, gay, bisexual individuals risk psychiatric disorders from discriminatory policies”. Columbia University Mailman School of Public Health. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012.
  116. ^ Mustanski, Brian (22 tháng 3 năm 2010). “New study suggests bans on gay marriage hurt mental health of LGB people”. Psychology Today. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010.
  117. ^ Laurie, Timothy (3 tháng 6 năm 2015), Bigotry or biology: the hard choice for an opponent of marriage equality, The Drum, lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2015, truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015
  118. ^ Blankenhorn, David (19 tháng 9 năm 2008). “Protecting marriage to protect children”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2009.
  119. ^ “See discussion of prenuptial and postmarital agreements at Findlaw”. Family.findlaw.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  120. ^ Dale Carpenter is a prominent spokesman for this view. For a better understanding of this view, see Carpenter's writings at“Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2006.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  121. ^ “Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, the American Psychiatric Association, and the American Association for Marriage and Family Therapy as amici curiae in support of plaintiff-appellees – Appeal from United States District Court for the Northern District of California Civil Case No. 09-CV-2292 VRW (Honorable Vaughn R. Walker)” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  122. ^ “Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association” (PDF). 2006. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2009.
  123. ^ Pawelski JG, Perrin EC, Foy JM, và đồng nghiệp (tháng 7 năm 2006). “The effects of marriage, civil union, and domestic partnership laws on the health and well-being of children”. Pediatrics. 118 (1): 349–64. doi:10.1542/peds.2006-1279. PMID 16818585.
  124. ^ Lamb, Ph.D., Michael. “Expert Affidavit for U.S. District Court (D. Mass. 2009)” (PDF). Gay & Lesbian Advocates & Defenders. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012.
  125. ^ a b “Pediatricians: Gay Marriage Good for Kids' Health”. news.discovery.com. 22 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013.
  126. ^ “Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association” (PDF). 2006. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2009.
  127. ^ “Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families – A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  128. ^ “Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and The American Association of Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in Support of Plaintiff-Appellees” (PDF). United States Court of Appeals for the Ninth Circuit. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  129. ^ Herek, GM (tháng 9 năm 2006). “Legal recognition of same-sex relationships in the United States: a social science perspective” (PDF). The American Psychologist. 61 (6): 607–21. doi:10.1037/0003-066X.61.6.607. PMID 16953748. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2010.
  130. ^ Biblarz, Timothy J.; Stacey, Judith (tháng 2 năm 2010). “How Does the Gender of Parents Matter?” (PDF). Journal of Marriage and Family. 72 (1): 3–22. CiteSeerX 10.1.1.593.4963. doi:10.1111/j.1741-3737.2009.00678.x. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2013.
  131. ^ “Brief presented to the Legislative House of Commons Committee on Bill C38 by the Canadian Psychological Association – 2 June 2005” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018.
  132. ^ “Austrian court rules to allow same-sex adoptions”. The Privateer. 16 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
  133. ^ “LGBT Adoption Statistics”. lifelongadoptions.com. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2016.
  134. ^ “Families are created with love”. gayadoption.org. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2016.
  135. ^ The Fertility Sourcebook, Third Edition – Page 245, M. Sara Rosenthal – 2002
  136. ^ An Introduction to Family Social Work – Page 348, Donald Collins, Catheleen Jordan, Heather Coleman – 2009
  137. ^ “Same-sex couples seeking IVF on the NHS face discrimination”. vardags.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.
  138. ^ a b Bockting, Walter, Autumn Benner, and Eli Coleman. "Gay and Bisexual Identity Development Among Female-to-Male Transsexuals in North America: Emergence of a Transgender Sexuality." Archives of Sexual Behavior 38.5 (October 2009): 688–701. Academic Search Premier. EBSCO. 29 September 2009
  139. ^ Matthew S. Coleman, Esq. (16 tháng 9 năm 2015). “Obergefell v. Hodges”. Einhorn Harris. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2015.
  140. ^ Leff, Lisa (4 tháng 12 năm 2008). “Poll: Calif. gay marriage ban driven by religion”. USA Today. Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) archived here.
  141. ^ Mirchandani, Rajesh (12 tháng 11 năm 2008). “Divisions persist over gay marriage ban”. BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2008.
  142. ^ http://www.theatlantic.com/health/archive/2013/11/a-same-sex-domestic-violence-epidemic-is-silent/281131/
  143. ^ http://www.cdc.gov/violenceprevention/pdf/cdc_nisvs_victimization_final-a.pdf
  144. ^ Waldner-Haugrud, Lisa K., & Vaden Gratch, Linda. (1997). Sexual coercion in gay/lesbian relationships: Descriptives and gender differences. Violence and Victims, 12 (1), 87-98.
  145. ^ Scherzer, Teresa. (1998). Domestic violence in lesbian relationships: Findings of the lesbian relationships research project. Journal of Lesbian Studies, 2 (1), 29-47.
  146. ^ Dr. Island and P. Letellier, Men Who Beat the Men Who Love Them: Battered Gay Men and Domestic Violence, (New York: Haworth Press, 1991)
  147. ^ http://www.advocate.com/crime/2014/09/04/2-studies-prove-domestic-violence-lgbt-issue
  148. ^ http://www.northwestern.edu/newscenter/stories/2014/09/domestic-violence-likely-more-frequent-for-same-sex-couples.html
  149. ^ http://www.smh.com.au/nsw/domestic-violence-a-silent-epidemic-in-gay-relationships-20150415-1mm4hg.html
  150. ^ A Descriptive Analysis of Same-Sex Relationship Violence for a Diverse Sample[liên kết hỏng], The Journal of Family Violence, Publisher Springer Netherlands, Volume 15, Number 3, September, 2000, Pages 281-293. ISSN 0885-7482
  151. ^ Lettie L. Lockhart et al., "Letting out the Secret:Violence in Lesbian Relationships," pp. 469-492 Journal of Interpersonal Violence 9 (1994)
  152. ^ Gwat Yong Lie and Sabrina Gentlewarrier, Intimate Violence in Lesbian Relationships: Discussion of Survey Findings and Practice Implications, p. 46, Journal of Social Service Research 15 (1991)
  153. ^ William C. Nichols, et al, editors, Handbook of Family Development and Intervention, p. 393 (New York:John Wiley and Sons, Inc., 2000)
  154. ^ National Coalition of Anti-Violence Programs (http://www.avp.org). (1999). Lesbian, gay, transgender and bisexual domestic violence in 1998. New York: NCAVP. (See also 1997 and 1998 reports for information on state laws concerning same-sex domestic violence.)
  155. ^ West, Carolyn M. (1998). Leaving a second closet: Outing partner violence in same-sex couples. In Jana L. Jasinski & Linda M. Williams (Eds.), Partner violence: A comprehensive review of 20 years of research (pp. 163-183). Thousand Oaks, CA: Sage Publications.
  156. ^ “Các cặp đôi đồng tính hạnh phúc hơn các cặp đôi dị tính?”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2014. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014.
  157. ^ “The key to a happy relationship? Be gay. Or childless. Or make tea”. The Independent. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014.
  158. ^ “Same-Sex Couples Happier Than Straight Couples: Study”. The Bilerico Project. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014.
  159. ^ “Married Same-Sex Couples Are Happier”. LiveScience.com. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014.
  160. ^ a b c Comparing the Lifestyles of Homosexual Couples to Married Couples. By Timothy J. Dailey, Ph. D. Senior Fellow
  161. ^ Gunnar Andersson, "Divorce-Risk Patterns in Same-Sex Marriages in Norway and Sweden". 2004.
  162. ^ Adrian Brune, "City Gays Skip Long-term Relationships: Study Says," Washington Blade (February 27, 04): 12.
  163. ^ The Contribution of Steady and Casual Partnerships to the Incidence of HIV Infection among Homosexual Men in Amsterdam," AIDS 17 (2003): 1031.
  164. ^ "Money, Housework, Sex, and Conflict: Same-Sex Couples in Civil Unions, Those Not in Civil Unions, and Heterosexual Married Siblings Sondra E. Solomon". Esther D. Sex Roles, Vol. 52, Nos. 9/10, 2005. DOI: 10.1007/s11199-005-3725-7. P 569” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
  165. ^ Ryan Lee, "Gay Couples Likely to Try Non-monogamy, Study Shows," Washington Blade (ngày 22 tháng 8 năm 2003): 18
  166. ^ A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men," Journal of Sex Research 34 (1997): 354
  167. ^ “AC21DOJ.org”.
  168. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên auto
  169. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên auto1
  170. ^ Byron Babione (ngày 10 tháng 5 năm 2012). “Opposing view: You can't redefine marriage”. USA Today. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013.
  171. ^ http://www.bbc.com/vietnamese/world/2013/07/130730_francis_position_homosexuals
  172. ^ http://www.vatican.va/roman_curia/secretariat_state/2008/documents/rc_seg-st_20081218_statement-sexual-orientation_en.html
  173. ^ “Pope: Abortion, gay marriage among world's greatest threats”. USA Today. Washington DC. ngày 14 tháng 5 năm 2010.
  174. ^ “On Marriage, Family, Sexuality, and the Sanctity of Life”. Orthodox Church in America. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2006.
  175. ^ “Homosexuality and Same - Sex Marriage in Islam”. patheos.com. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  176. ^ Mettanando Bhikkhu (ngày 13 tháng 7 năm 2005). Religion and Same-Sex Marriage. The Buddhist Channel: Bringing Buddha Dharma Home – Issues. The Bangkok Post
  177. ^ “Nước Pháp chia rẽ vì dự luật hôn nhân đồng tính”. Báo điện tử Người đưa tin. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015.
  178. ^ “Thông điệp của Giáo hoàng Biển Đức XVI: Hôn nhân đồng tính là phi tự nhiên”. Báo điện tử An ninh Thế giới.
  179. ^ http://www.pinknews.co.uk/2011/06/17/un-passes-gay-rights-resolution/
  180. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015.
  181. ^ http://www.ynet.co.il/english/Ext/Comp/ArticleLayout/CdaArticlePrintPreview/1,2506,L-3688718,00.html
  182. ^ “Bản sao đã lưu trữ” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015.
  183. ^ http://geneva.usmission.gov/2011/03/22/lgbtrights/
  184. ^ http://www.google.com/hostednews/ap/article/ALeqM5gpjOuYqR_9HwpkxaT7bS6f0x_glA?docId=3e1fdafae97c40f393a3d245c0df9fe4
  185. ^ http://www.tjsl.edu/slomansonb/10.3_GLBT_UN.pdf
  186. ^ Pháp: Biểu tình rầm rộ ủng hộ hôn nhân đồng tính
  187. ^ a b http://baodatviet.vn/doi-song/gia-dinh/the-gioi-doi-avatar-khi-my-hop-phap-hon-nhan-dong-tinh-3274471/
  188. ^ http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/to-am/gan-30-trieu-nguoi-dung-facebook-su-dung-hieu-ung-cau-vong-3241542.html
  189. ^ http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/anh/hang-trieu-nguoi-dieu-hanh-vi-nguoi-dong-tinh-2841183.html
  190. ^ “Thế giới rợp màu cầu vồng ủng hộ hôn nhân đồng tính”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015.
  191. ^ London: Bất chấp IS, 30.000 người xuống đường ủng hộ hôn nhân đồng giới
  192. ^ Tuần hành kêu gọi hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Nhật Bản
  193. ^ “Tim Cook dẫn đầu 8.000 nhân viên Apple tham dự diễu hành”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015.
  194. ^ http://www.thestar.com/news/gta/2013/09/18/world_pride_2014_gets_strong_support_at_city_hall.html
  195. ^ http://www.topchoiceawards.com/
  196. ^ http://www.citynews.ca/2009/10/18/toronto-to-host-world-pride-in-2014/
  197. ^ http://www.dailyxtra.com/toronto/news-and-ideas/news/worldpride-brought-big-dividends-toronto-pride-says-95315
  198. ^ http://fr.scribd.com/doc/135951013/Pride-Toronto-to-Toronto-Police-Re-trans-march-on-Yonge
  199. ^ http://news.xinhuanet.com/english/2015-10/31/c_134769703.htm
  200. ^ http://www.europride.com/en/archives/year-2007/madrid-2007/
  201. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015.
  202. ^ “http://motthegioi.vn/cau-vong-luc-sac/tin-tuc-lgbt/10000-nguoi-tham-du-le-hoi-tu-hao-dong-tinh-tai-hong-kong-253677.html”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015. Liên kết ngoài trong |title= (trợ giúp)
  203. ^ “Đài Loan: Gần 80.000 người tham dự lễ tự hào đồng tính”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015.
  204. ^ http://www.thanhnien.com.vn/the-gioi/dan-phap-bieu-tinh-ram-ro-phan-doi-hon-nhan-dong-tinh-49073.html
  205. ^ http://baotintuc.vn/anh/bieu-tinh-phan-doi-hon-nhan-dong-tinh-o-phap-20130114150133271.htm
  206. ^ http://www.out.com/news-opinion/2015/6/01/south-korea-bans-lgbt-pride
  207. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2015.
  208. ^ http://www.theguardian.com/australia-news/2015/sep/20/rally-opposing-marriage-equality-clashes-with-counter-protesters-in-sydney
  209. ^ http://latino.foxnews.com/latino/lifestyle/2015/07/26/thousands-protest-against-gay-marriage-abortion-in-mexico/
  210. ^ http://www.naturalmarriage.org.au/news-posts/over-300000-rally-in-rome-against-same-sex-marriage/
  211. ^ http://www.balkaninsight.com/en/article/lgbt-serbia-capitulated-to-hooligans
  212. ^ http://www.ecumenicalnews.com/article/gay.themed.childrens.books.in.singapore.escape.pulping/25753.htm
  213. ^ http://vtc.vn/cho-phep-hon-nhan-dong-gioi-am-muu-chinh-tri-khung-khiep-nham-vao-nga.311.560153.htm
  214. ^ http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20130122/nga-xem-xet-luat-chong-nguoi-dong-tinh/531149.html
  215. ^ https://www.lifesitenews.com/news/russia-will-deport-foreigners-for-homosexual-propaganda-duma-passes-bill-43
  216. ^ https://www.rt.com/politics/272416-russia-straight-flag-family/
  217. ^ Văn nghệ sĩ thế giới lên tiếng bảo vệ người đồng tính
  218. ^ German and EU foreign ministers slam Russia on gay rights
  219. ^ UN rights office rejects anti-gay laws of Russia
  220. ^ United Nations Asks Russia to Kill Anti-Gay 'Propaganda' Bill
  221. ^ http://www.cbsnews.com/news/putin-talks-gay-rights-on-60-minutes/
  222. ^ http://thinkprogress.org/lgbt/2013/09/19/2652771/putin-europeans-dying-allow-sex-couples-marry/
  223. ^ http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/123246/2-4-trieu-nguoi-xem-phim-dong-tinh-tren-truyen-hinh.html
  224. ^ http://dantri.com.vn/giai-tri/cong-bo-de-cu-qua-cau-vang-2014-1387350615.htm
  225. ^ http://ngoisao.net/tin-tuc/hau-truong/hollywood/phim-dong-tinh-cua-michael-douglas-doat-qua-cau-vang-2938817.html
  226. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2015.
  227. ^ http://www.indiewire.com/article/steven-soderberghs-behind-the-candelabra-highest-rated-hbo-movie-since-2004
  228. ^ http://deadline.com/2013/08/television-critics-association-awards-2013-winners-list-556180/
  229. ^ http://khampha.vn/giai-tri/cannes-66-vinh-danh-tinh-yeu-dong-tinh-c6a85990.html
  230. ^ Phim đồng tính gây sốc đoạt cành cọ vàng
  231. ^ http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/diem-phim/blue-is-the-warmest-colour-phim-18-giau-cam-xuc-bac-nhat-2939426.html
  232. ^ http://daotao.vtv.vn/phim-dong-tinh-nu-chien-thang-canh-co-vang/[liên kết hỏng]
  233. ^ http://songmoi.vn/van-hoa-giai-tri/lhp-cannes-2013-vinh-danh-tinh-yeu-dong-tinh
  234. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2015.
  235. ^ http://www.thetimes.co.uk/tto/arts/film/article3950516.ece
  236. ^ http://www.indiewire.com/article/12-years-a-slave-and-her-split-four-more-critics-groups-awards
  237. ^ http://www.bifa.org.uk/releases/mbifa-2013-winners-final
  238. ^ http://www.nytimes.com/movies/movie/131112/Farewell-My-Concubine/awards
  239. ^ http://www.empireonline.com/features/100-greatest-world-cinema-films/default.asp?film=97
  240. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2015.
  241. ^ http://vtc.vn/cuoc-doi-dam-nuoc-mat-cua-huyen-thoai-truong-quoc-vinh.13.547156.htm
  242. ^ http://ione.vnexpress.net/tin-tuc/showbiz/music/5-thanh-vien-backstreet-boys-tung-mv-xi-tin-2854142.html
  243. ^ http://www.ign.com/articles/2014/07/23/final-fantasy-14s-gay-marriage-decision-inspires-pride-parade
  244. ^ http://www.pcgamer.com/final-fantasy-xiv-guild-holds-pride-parade-to-celebrate-in-game-gay-marriage-update/
  245. ^ http://gamesao.vietnamnet.vn/game-pc-console/nhung-tua-game-ung-ho-hon-nhan-dong-gioi-10922.html
  246. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015.
  247. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015.
  248. ^ http://gamesao.vietnamnet.vn/game-mobile/lien-minh-huyen-bi-bat-ngo-xuat-hien-dam-cuoi-dong-gioi-dau-2690.html
  249. ^ http://gamesao.vietnamnet.vn/game-online/ket-hon-dong-gioi-trong-beat-3d-4228.html
  250. ^ http://gamethu.vnexpress.net/tin-tuc/mobile/ket-hon-dong-gioi-trong-beat-3d-3172827.html[liên kết hỏng]
  251. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên administration2004
  252. ^ http://dantri.com.vn/kinh-doanh/hon-nhan-dong-tinh-kich-thich-kinh-te-1365211399.htm
  253. ^ 94,7% người đồng tính mong muốn được kết hôn hợp pháp
  254. ^ “Christian party claims heterosexual Australians oppressed because gays earn more”. Gay Star News. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014.
  255. ^ “LGBT Marketing and Advertising”. Human Rights Campaign. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014.
  256. ^ “Gay people earn more, owe less”. CNNMoney. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014.
  257. ^ “Bản sao đã lưu trữ” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015.
  258. ^ “New Patterns of Poverty in the Lesbian, Gay, and Bisexual Community”. Williams Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2020. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015.
  259. ^ New Patterns of Poverty in the Lesbian, Gay, and Bisexual Community
  260. ^ Peter Drucker. Warped: Gay Normality and Queer Anti-Capitalism Historical Materialism Book Series. BRILL, 2015. ISBN 9004288112. Trang 259.
  261. ^ For old polling data, figures have been adjusted upward @1%/year.
  262. ^ Newport, Frank (20 tháng 5 năm 2011). “For First Time, Majority of Americans Favor Legal Gay Marriage”. Gallup. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  263. ^ “Public Opinion: Nationally”. australianmarriageequality.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  264. ^ “Gay Life in Estonia”. globalgayz.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  265. ^ Jowit, Juliette (12 tháng 6 năm 2012). “Gay marriage gets ministerial approval”. The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  266. ^ “Most Irish people support gay marriage, poll says”. PinkNews. 24 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  267. ^ “Survey – Generations at Odds: The Millennial Generation and the Future of Gay and Lesbian Rights”. Public Religion Research Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  268. ^ “Pew Forum: Part 2: Gay Marriage”. Pew Research Center. 18 tháng 11 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  269. ^ Poirier, Justine. “Same-Sex Marriage: Let's Make a Change”. Montréalités Justice. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  270. ^ “Data Points: Support for Legal Same-Sex Marriage”. The Chronicle of Higher Education. 16 tháng 3 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  271. ^ “Support for Same‐Sex Marriage in Latin America” (PDF). Vanderbilt University. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  272. ^ “Un 70% d'andorrans aprova el matrimoni homosexual”. DiariAndorra.ad. 7 tháng 7 năm 2013.
  273. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t “Cultura polítical de la democracia en la República Dominicana y en las Américas, 2016/17” (PDF). Vanderbilt University (bằng tiếng Tây Ban Nha). 13 tháng 11 năm 2017. tr. 132.
  274. ^ a b c d e f g h i “Religious Belief and National Belonging in Central and Eastern Europe” (PDF). Pew. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2017.
  275. ^ a b c d e f g h i “Religious belief and national belonging in Central and Eastern Europe - Appendix A: Methodology”. Pew Research Center. 10 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  276. ^ “The Essential Report: 13 March 2018” (PDF). Essential Research. 13 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  277. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y “Eurobarometer on Discrimination 2019: The social acceptance of LGBTI people in the EU”. TNS. European Commission. tr. 2. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2019. The question was whether same-sex marriage should be allowed throughout Europe.
  278. ^ a b c d e “Barómetro de las Américas: Actualidad – 2 de junio de 2015” (PDF).
  279. ^ Vinh, Dany; Menh, Vuthisokunna. “TNS Research Report on Opinions Attitudes and Behavior toward the LGBT Population in Cambodia” – qua www.academia.edu.
  280. ^ “I find it great that in our society, two people of the same sex can get married” (PDF). CROP Panorama.
  281. ^ “Encuesta Plaza Pública - Cuarta semana de agosto - Estudio N° 293” (PDF). Plaza Pública-Cadem. tr. 21, 22, 24. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2019.
  282. ^ a b “Of 23 Countries Surveyed, Majority (65%) in 20 Countries Support Legal Recognition of Same-Sex Unions”. Ipsos. 29 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2015.
  283. ^ 2020-02 Gallup Poll
  284. ^ “Colombia Gallup Poll” (PDF). Gallup (bằng tiếng Tây Ban Nha). tháng 2 năm 2019. The poll was conducted in 5 cities.
  285. ^ Support of the IACHR decision. 'Neither' includes 25% who had not heard of the decision.
  286. ^ [https://ciep.ucr.ac.cr/sites/default/files/Informe-encuesta-ENERO23-2018_2.pdf INFORME DE RESULTADOS DE LA ENCUESTA DE OPINIÓN SOCIOPOLÍTICA REALIZADA EN ENERO DE 2018]
  287. ^ “67% of Czechs support same-sex marriage, says new poll”. 23 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2020.
  288. ^ “Encuesta: Un 63,1% de los cubanos quiere matrimonio igualitario en la Isla”. Diario de Cuba (bằng tiếng Tây Ban Nha). 18 tháng 7 năm 2019.
  289. ^ America's Barometer Topical Brief #034, Disapproval of Same-Sex Marriage in Ecuador: A Clash of Generations?, 23 July 2019. Counting ratings 1–3 as 'disapprove', 8–10 as 'approve', and 4–7 as neither.
  290. ^ Public Opinion Poll about LGBT rights in Greece(Greek)
  291. ^ Public Opinion Poll about LGBT rights in Greece (Enhlish)
  292. ^ “Más del 70% de los hondureños rechaza el matrimonio homosexual”. Diario La Prensa.
  293. ^ “Litlar breytingar á viðhorfi til giftinga samkynhneigðra” (PDF). Gallup. tháng 9 năm 2006.
  294. ^ “Where is the love: 62 per cent Indians say same-sex marriages not accepted, finds Mood of the Nation poll”. India Today. 25 tháng 1 năm 2019.
  295. ^ Sengar, Shweta (2 tháng 2 năm 2019). “Prejudice Before Love? 62 Per Cent Indians Still Don't Approve Same-Sex Marriage, Finds Survey”. India Times.
  296. ^ Of which 23% were in favor of some kind of civil union
  297. ^ Einhorn, Alon (7 tháng 6 năm 2019). “54% OF RELIGIOUS JEWS SUPPORT GAY MARRIAGE, PARTNERSHIP”. The Jerusalem Post.
  298. ^ https://eurispes.eu/wp-content/uploads/2020/07/2020_eurispes_-indagine-temi-etici.pdf
  299. ^ “同性婚、20〜30代の8割が賛成。性的マイノリティの友人への「抵抗感」は40〜50代で大幅に減少【全国調査】”. Huffington Post. tháng 11 năm 2020.
  300. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae af ag “¿Quién está en contra del matrimonio gay?”. El Sol de México (bằng tiếng Tây Ban Nha). 15 tháng 4 năm 2019.
  301. ^ “Most Mozambicans against homosexual violence, study finds”. MambaOnline - Gay South Africa online. 4 tháng 6 năm 2018., (full report)
  302. ^ “Views on whether same-sex couples should be able to marry” (PDF). Colmar Brunton. tháng 5 năm 2012. Bản gốc (PDF) lưu trữ 14 Tháng Ba năm 2016. Truy cập 23 tháng Chín năm 2012.
  303. ^ isaac.davison@nzherald.co.nz @isaac_davison, Isaac Davison Social Issues Reporter, NZ Herald (25 tháng 3 năm 2013). “Shock poll over gay marriage bill” – qua www.nzherald.co.nz.
  304. ^ Perú, Redacción El Comercio (29 tháng 6 năm 2019). “LGTB: el 49% de peruanos dice que tiene opinión favorable hacia los homosexuales”. El Comercio Perú.
  305. ^ “First Quarter 2018 Social Weather Survey: 61% of Pinoys oppose, and 22% support, a law that will allow the civil union of two men or two women”. 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2019.
  306. ^ “Отношение к сексменьшинствам”. ФОМ. tháng 6 năm 2019.
  307. ^ Results were same-sex marriage is: always wrong (48.5%), almost always wrong (11.5%), only wrong sometimes (13.1%), not wrong most of the time (10.5%), not wrong at all (16.4%).
    “Religion, Morality and Conservatism in Singapore” (PDF). Institute of Policy Studies. 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  308. ^ A survey of attitudes towards homosexuality and gender non-conformity in South Africa, page 54
  309. ^ Jeong-Eun, Son (26 tháng 12 năm 2017). “특집 여론조사…국민 59.7% "적폐청산 수사 계속해야". MBC Newsdesk.
  310. ^ “Schweizer wollen die Homo-Ehe”. Blick. 10 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
  311. ^ Eliassen, Isabel (11 tháng 9 năm 2020). “Has Taiwanese Public Opinion on Same-Sex Marriage Changed?”. The Diplomat.
  312. ^ “Nida Poll: Most Thais agree with same sex marriage”.
  313. ^ PRRI (19 tháng 10 năm 2020). “Dueling Realities: Amid Multiple Crises, Trump and Biden Supporters See Different Priorities and Futures for the Nation”.
  314. ^ “One in three Vietnamese support marriage equality”. GayStarNews. 31 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2014.
  315. ^ “Survey Findings on Public Opinion on Legalisation and the Spousal Rights of Same-sex Marriage in Hong Kong”. Chinese University of Hong Kong. 6 tháng 7 năm 2019.
  316. ^ Jógvansdóttir, Sára (21 tháng 4 năm 2016). “Kanning: 64 prosent fyri at broyta hjúnabandslóg” (bằng tiếng Faroe). Kringvarp Føroya. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016.
  317. ^ UOG Poll: 55% Support Gay Marriage, Pacific News Center, April 22, 2015
  318. ^ “Social Attitudes on Moral Issues in Latin America - Pew Research Center”. Pew Research Center's Religion & Public Life Project. 13 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
  319. ^ Wakefield, Lily (20 tháng 6 năm 2019). “70 percent of Brits say Northern Ireland should legalise same-sex marriage”. PinkNews.
  320. ^ Stuart, Calum (20 tháng 6 năm 2019). “70% of UK residents support marriage equality in Northern Ireland”. Gay Star News.
  321. ^ Bell, Jonathan. “Poll: support for same-sex marriage | The Royal Gazette:Bermuda News”. The Royal Gazette.
  322. ^ Newport, Frank. “For First Time, Majority of Americans Favor Legal Gay Marriage”. Gallup. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  323. ^ “Public Opinion: Nationally”. australianmarriageequality.com. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  324. ^ “Gay Life in Estonia”. globalgayz.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  325. ^ Jowit, Juliette (ngày 12 tháng 6 năm 2012). “Gay marriage gets ministerial approval”. The Guardian. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  326. ^ “Most Irish people support gay marriage, poll says”. PinkNews.co.uk. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014.
  327. ^ “Support for gay marriage high in developed nations: poll”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2014. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014.
  328. ^ “Strong International Support (73%) Among Developed Nations for Legal Recognition of Same-Sex Couples: Majorities in All 16 Countries Support Recognition Ipsos”. Ipsos. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014.
  329. ^ a b c Enquête sur la droitisation des opinions publiques européennes
  330. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2015.
  331. ^ “Special Eurobarometer 437” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015.
  332. ^ Les Français et les droits des couples homosexuels
  333. ^ a b “Same-Sex Marriage”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2014.
  334. ^ YouGov / EMEA Survey Results
  335. ^ “Phần Lan chính thức hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2014. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014.
  336. ^ “Tahdon2013-kysely: Samaa sukupuolta olevien avioliiton kannatus noussut”. Yle Uutiset