Wiki - KEONHACAI COPA

Charlize Theron

Charlize Theron
Theron năm 2018
Sinh7 tháng 8, 1975 (48 tuổi)
Benoni, Transvaal, Nam Phi
Tư cách công dân
Nghề nghiệp
  • Diễn viên
  • nhà sản xuất
Năm hoạt động1995–nay
Bạn đời
Con cái2
Trang webcharlizeafricaoutreach.org

Charlize Theron (phát âm theo tiếng Anh kiểu Mỹ: /ʃɑːrˈlz ˈθɛrən/; phát âm theo tiếng Afrikaans: [ʃɐrˈlis tron];[1] sinh ngày 7 tháng 8 năm 1975) là một nữ diễn viên kiêm nhà làm phim người Mỹ gốc Nam Phi. Là một trong những nữ diễn viên được trả lương cao nhất thế giới, cô là chủ nhân của nhiều giải thưởng khác nhau, bao gồm giải Oscar, giải SAGgiải Quả cầu vàng. Năm 2016, Time đã vinh danh cô là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới.

Theron trở nên nổi tiếng quốc tế vào những năm 1990 khi đóng vai phụ nữ hàng đầu trong các bộ phim Hollywood The Devil's Advocate (1997), Mighty Joe Young (1998) và The Cider House Rules (1999). Cô được giới phê bình đánh giá cao nhờ vai diễn kẻ giết người hàng loạt Aileen Wuornos trong Monster (2003), nhờ đó cô đã giành được giải Gấu bạcGiải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, trở thành người Nam Phi đầu tiên giành giải Oscar ở hạng mục diễn xuất. Cô nhận được một đề cử giải Oscar khác cho vai một phụ nữ bị lạm dụng tình dục đi tìm công lý trong bộ phim truyền hình North Country (2005).

Theron kể từ đó đã đóng vai chính trong một số bộ phim hành động thành công về mặt thương mại, bao gồm The Italian Job (2003), Hancock (2008), Snow White and the Huntsman (2012), Prometheus (2012), Mad Max: Fury Road (2015), The Huntsman: Winter's War (2016), The Fate of the Furious (2017), Atomic Blonde (2017), The Old Guard (2020) và F9 (2021). Cô cũng nhận được lời khen ngợi khi đóng vai phụ nữ rắc rối trong các bộ phim truyền hình hài Young Adult (2011) và Tully (2018) của Jason Reitman, và cho vai Megyn Kelly trong bộ phim tiểu sử Bombshell (2019), lần cuối cùng nhận được đề cử Giải Oscar thứ ba.

Từ đầu những năm 2000, Theron đã mạo hiểm sản xuất phim với công ty Denver và Delilah Productions của cô. Cô đã sản xuất nhiều bộ phim, trong đó có nhiều bộ phim mà cô đã đóng vai chính, bao gồm The Burning Plain (2008), Dark Places (2015) và Long Shot (2019). Theron trở thành công dân Mỹ vào năm 2007, trong khi vẫn giữ quốc tịch Nam Phi của mình. Cô đã được vinh danh bằng cách khắc trên ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood.

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Theron sinh tại Cape Town, Nam Phi. Cha cô, ông Charles Theron, chủ nhân của một công ty xây dựng thuộc dòng dõi người Pháp theo Đạo Tin Lành (Huguenot). Mẹ cô, bà Gerda, một người Đức đã tiếp quản công việc kinh doanh của chồng mình sau khi ông qua đời. Ngôn ngữ đầu tiên của Charlize là Afrikaans. Cô còn thông thạo Tiếng Anh và nói được tiếng Xhosa. "Theron" là họ tiếng Pháp của cô (nguyên văn là Théron) phát âm theo tiếng Afrikaans là "Tronn". Nhưng cô nói thích được gọi là "Thrown" hơn. Cách phát âm thường được dùng ở Mỹ bao gồm 2 âm tiết, nhấn mạnh ở âm đầu tiên.

Theron lớn lên mà không có anh chị em ở nông trại gia đình gần Johannesburg (Benoni). Năm 13 tuổi, Theron được chuyển đến trường nội trú và bắt đầu việc học tập tại trường Nghệ thuật Quốc gia (National School Of The Arts) tại Johannesburg. Mười lăm tuổi, cô đã phải đau đớn chứng kiến cái chết của cha mình, một bi kịch liên quan đến rượu, mẹ cô đã bắn ông để tự vệ khi bị cha cô tấn công trong cơn say.

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

1991–1996: Công việc ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù tự nhận mình là một vũ công, ở tuổi 16 Theron đã giành được hợp đồng người mẫu một năm  tại một cuộc thi địa phương ở Salerno và cùng mẹ chuyển đến Milan, Ý. Sau khi Theron dành một năm làm người mẫu khắp châu Âu, cô và mẹ chuyển đến Hoa Kỳ, cả Thành phố New York và Miami. Tại New York, cô theo học tại Trường Ballet Joffrey, nơi cô được đào tạo như một vũ công ba lê cho đến khi chấn thương đầu gối khép lại con đường sự nghiệp này. Như Theron nhớ lại vào năm 2008:

Tôi đã đến New York trong ba ngày để làm người mẫu, và sau đó tôi đã trải qua một mùa đông ở New York trong căn hộ tầng hầm không cửa sổ của một người bạn. Tôi đã suy sụp tinh thần, tôi đang tham gia lớp học tại Joffrey Ballet, và đầu gối của tôi như nhũn ra. Tôi nhận ra rằng mình không thể nhảy được nữa, và tôi đã rơi vào tình trạng trầm cảm nặng nề. Mẹ tôi từ Nam Phi đến và nói, "Con tính xem phải làm gì tiếp theo hoặc con về nhà đi, vì con có thể hờn dỗi ở Nam Phi".

Năm 1994, Theron bay đến Los Angeles bằng vé một chiều mà mẹ cô mua cho cô, với ý định làm việc trong lĩnh vực điện ảnh. Trong những tháng đầu tiên ở đó, cô sống trong một nhà trọ với số tiền 300 đô la mà mẹ cô đã cho cô; cô ấy tiếp tục nhận séc từ New York và sống "từ tiền lương này sang tiền lương khác" đến mức ăn trộm bánh mì trong giỏ trong một nhà hàng để tồn tại. Một ngày, cô đến ngân hàng ở Đại lộ Hollywood để rút một ít séc, trong đó có một tấm mà mẹ cô đã gửi để giúp trả tiền thuê nhà, nhưng nó đã bị từ chối vì nó nằm ngoài tiểu bang và cô ấy không phải là công dân Mỹ. Theron tranh cãi và cầu xin nhân viên giao dịch ngân hàng cho đến khi đại lý tài năng John Crosby, là khách hàng tiếp theo sau cô, rút ​​tiền mặt cho cô và đưa cho cô danh thiếp của anh ta.

Crosby giới thiệu Theron đến một trường học diễn xuất, và vào năm 1995, cô đóng vai không nói đầu tiên trong bộ phim kinh dị Children of the Corn III: Urban Harvest. Vai diễn thuyết trình đầu tiên của cô là Helga Svelgen, nữ hit trong 2 Days in the Valley (1996), nhưng bất chấp những đánh giá trái chiều về bộ phim, Theron đã thu hút sự chú ý bởi vẻ đẹp của cô và cảnh cô chiến đấu với nhân vật của Teri Hatcher. Theron sợ bị đánh máy thành những nhân vật tương tự như Helga và nhớ lại việc được yêu cầu lặp lại màn trình diễn của cô trong phim trong các buổi thử vai: "Nhiều người nói, 'Bạn chỉ nên đánh khi bàn ủi còn nóng' [...] Nhưng chơi đi chơi lại một phần không để lại cho bạn tuổi thọ. Và tôi biết sẽ khó hơn cho tôi, bởi vì tôi trông như thế nào, để phân nhánh các loại vai trò khác nhau".

Khi thử vai cho Showgirls, Theron được giám đốc đồng casting Johanna Ray giới thiệu với đặc vụ tài năng J.J. Harris. Cô nhớ lại đã rất ngạc nhiên về niềm tin của Harris vào tiềm năng của cô và gọi Harris là người cố vấn của cô. Harris sẽ tìm kịch bản và phim cho Theron ở nhiều thể loại khác nhau và khuyến khích cô trở thành nhà sản xuất. Cô ấy sẽ là đại lý của Theron trong hơn 15 năm cho đến khi Harris qua đời.

1997–2002: Đột phá[sửa | sửa mã nguồn]

Các vai diễn lớn hơn trong các bộ phim Hollywood được phát hành rộng rãi sau đó, và sự nghiệp của cô mở rộng vào cuối những năm 1990. Trong bộ phim kinh dị The Devil's Advocate (1997), được cho là bộ phim đột phá của cô, Theron đóng cùng Keanu Reeves và Al Pacino trong vai người vợ bị ám ảnh của một luật sư thành đạt bất thường. Sau đó, cô đóng vai chính trong bộ phim phiêu lưu Mighty Joe Young (1998) với tư cách là bạn và người bảo vệ của một con khỉ đột núi khổng lồ, và trong bộ phim truyền hình The Cider House Rules (1999), với vai một phụ nữ tìm cách phá thai ở Maine thời Thế chiến thứ hai. Trong khi Mighty Joe Young thất bại tại phòng vé, The Devil's AdvocateThe Cider House Rules đã thành công về mặt thương mại. Cô đã xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Vanity Fair số tháng 1 năm 1999 với tên gọi "White Hot Venus". Cô cũng xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Playboy số tháng 5 năm 1999, trong những bức ảnh được chụp vài năm trước đó khi cô còn là một người mẫu vô danh; Theron đã kiện tạp chí này không thành công vì đã xuất bản chúng mà không có sự đồng ý của cô ấy.

Đến đầu những năm 2000, Theron tiếp tục đảm nhận đều đặn các vai diễn trong các bộ phim như Reindeer Games (2000), The Yards (2000), The Legend of Bagger Vance (2000), Men of Honor (2000), Sweet November (2001), The Curse of the Jade Scorpion (2001) và Trapped (2002), tất cả đều chỉ đạt được thành công thương mại hạn chế, đã giúp cô trở thành một nữ diễn viên. Về giai đoạn này trong sự nghiệp của mình, Theron nhận xét: "Tôi luôn thấy mình ở một nơi mà các đạo diễn sẽ ủng hộ tôi nhưng các hãng phim thì không. [Tôi bắt đầu] mối tình với các đạo diễn, những người mà tôi thực sự ngưỡng mộ. cũng tạo ra những bộ phim thực sự tệ. Trò chơi tuần lộckhông phải là một bộ phim hay, nhưng tôi đã làm nó vì tôi yêu [đạo diễn] John Frankenheimer."

2003–2008: Thành công được công nhận trên toàn thế giới và có ý nghĩa quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Theron trên bìa tạp chí Ms. năm 2005.

Theron đóng vai một "kỹ thuật viên" an toàn và kho tiền trong bộ phim trộm cắp năm 2003 The Italian Job, một sự tôn kính của người Mỹ / bản làm lại của bộ phim Anh cùng tên năm 1969, do F. Gary Gray đạo diễn và đối đầu với Mark Wahlberg, Edward Norton, Jason Statham, Seth Green, và Donald Sutherland. Bộ phim thành công về mặt phòng vé, thu về 176 triệu đô la Mỹ trên toàn thế giới.

Trong Monster (2003), Theron miêu tả kẻ giết người hàng loạt Aileen Wuornos, một cựu gái mại dâm bị hành quyết ở Florida vào năm 2002 vì giết sáu người đàn ông (cô ấy không bị xét xử vì tội giết người thứ bảy) vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990; Nhà phê bình phim Roger Ebert cảm thấy rằng Theron đã cho "một trong những màn trình diễn vĩ đại nhất trong lịch sử điện ảnh". Với vai diễn của mình, cô đã được trao Giải Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 76 vào tháng 2 năm 2004, cũng như Giải thưởng của Hiệp hội Diễn viên Màn ảnh và Giải Quả cầu vàng. Cô là người Nam Phi đầu tiên giành giải Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Chiến thắng giải Oscar đã đẩy cô vào danh sách những nữ diễn viên được trả lương cao nhất ở Hollywood năm 2006 của The Hollywood Reporter, với thu nhập lên đến 10 triệu đô la Mỹ cho một bộ phim; cô ấy đứng thứ bảy. AskMen cũng gọi cô ấy là người phụ nữ được khao khát nhất năm 2003.

Với vai diễn nữ diễn viên kiêm ca sĩ Thụy Điển Britt Ekland trong bộ phim The Life and Death of Peter Sellers của đài HBO năm 2004, Theron đã giành được đề cử Giải Quả cầu vàng và Giải Primetime Emmy. Năm 2005, cô đóng vai Rita, người yêu bị thử thách tinh thần của Michael Bluth (Jason Bateman), trong mùa thứ ba của loạt phim truyền hình Arrested Development của Fox, và đóng vai chính trong bộ phim kinh dị khoa học viễn tưởng không thành công về mặt tài chính Aeon Flux; cho công việc lồng tiếng của cô ấy trong trò chơi điện tử Aeon Flux, cô ấy đã nhận được Giải thưởng trò chơi điện tử Spike cho phần trình diễn xuất sắc nhất của một phụ nữ.

Theron tham dự buổi ra mắt phim North Country tại Liên hoan phim quốc tế Toronto 2005.

Trong bộ phim truyền hình được giới phê bình đánh giá cao North Country (2005), Theron vào vai một bà mẹ đơn thân và một công nhân mỏ sắt bị quấy rối tình dục. David Rooney của Variety viết: "Bộ phim đại diện cho một bước tiếp theo đầy tự tin cho vai chính Charlize Theron. Mặc dù những thách thức khi theo đuổi vai diễn Oscar xác định lại sự nghiệp đã cản trở các nữ diễn viên, Theron sẽ chuyển từ Monster sang một màn trình diễn hoàn thiện hơn theo nhiều cách [...] Sức mạnh của cả diễn xuất và nhân vật đã neo bộ phim vững chắc vào truyền thống của các bộ phim truyền hình khác về những phụ nữ thuộc tầng lớp lao động dẫn đầu cuộc đấu tranh giải quyết các vấn đề tại nơi làm việc công nghiệp, chẳng hạn như Norma Rae hoặc Silkwood." Roger Ebert cũng lặp lại quan điểm tương tự khi gọi cô là "một nữ diễn viên có vẻ đẹp của một người mẫu thời trang nhưng đã tìm thấy nguồn lực bên trong mình cho những vai diễn mạnh mẽ về phụ nữ không quyến rũ trong thế giới đàn ông." Với màn trình diễn của mình, cô đã nhận được đề cử Giải Oscar và Giải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Tạp chí Ms. cũng đã vinh danh cô về màn trình diễn này với một bài báo trên ấn phẩm mùa thu 2005. Vào ngày 30 tháng 9 năm 2005, Theron nhận được một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood.

Năm 2007, Theron đóng vai một thám tử cảnh sát trong bộ phim tội phạm được giới phê bình đánh giá cao In the Valley of Elah, đồng thời được sản xuất và đóng vai một bà mẹ liều lĩnh, lẳng lơ trong bộ phim truyền hình ít được xem là Sleepwalking, cùng với Nick Stahl và AnnaSophia Robb. Christian Science Monitor đã ca ngợi phần sau của bộ phim, nhận xét rằng "Bất chấp những khiếm khuyết của nó và thời lượng chiếu không đủ dành cho Theron (người khá tốt), Sleepwalking có cốt lõi là cảm giác". Năm 2008, Theron đóng vai một người phụ nữ phải đối mặt với tuổi thơ đau thương trong bộ phim truyền hình The Burning Plain, do Guillermo Arriaga làm đạo diễn và làm việc với Jennifer Lawrence và Kim Basinger, và cũng đóng vai vợ cũ của một siêu anh hùng nghiện rượu bên cạnh Will Smith trong bộ phim siêu anh hùng Hancock. The Burning Plain được phát hành hạn chế tại các rạp ở Hoa Kỳ, nhưng thu về $ 5,267,917 bên ngoài Hoa Kỳ. Hơn nữa , Hancock đã kiếm được 624,3 triệu đô la Mỹ trên toàn thế giới. Cũng trong năm 2008, Theron được vinh danh là Người phụ nữ của nhà hát Hasty Pudding của năm, và được Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đề nghị trở thành Sứ giả Hòa bình của Liên hợp quốc. Trong thời gian này, cô bắt đầu xuất hiện trong J'adore Commercials.

2009–2011: Gián đoạn sự nghiệp và quay trở lại diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phim của cô được phát hành vào năm 2009 là bộ phim truyền hình hậu khải huyền The Road, trong đó cô xuất hiện ngắn gọn trong những đoạn hồi tưởng, và bộ phim hoạt hình Astro Boy, cung cấp giọng nói của cô cho một nhân vật. Vào ngày 4 tháng 12 năm 2009, Theron đã đồng dẫn chượng trình lễ bốc thăm cho FIFA World Cup 2010 tại Cape Town, Nam Phi, cùng với một số nhân vật nổi tiếng khác có quốc tịch hoặc tổ tiên Nam Phi. Trong các buổi tập, cô ấy đã vẽ một quả bóng Ireland thay vì Pháp như một trò đùa với chi phí của FIFA, đề cập đến tranh cãi về bóng bằng tay của Thierry Henry trong trận play-off giữa Pháp và Ireland. Việc đóng thế đã khiến FIFA cảnh báo đủ để FIFA lo sợ rằng cô ấy có thể làm điều đó một lần nữa trước khán giả toàn cầu trực tiếp.

Sau hai năm gián đoạn màn ảnh rộng, Theron trở lại nổi bật vào năm 2011 với bộ phim hài đen Young Adult. Do Jason Reitman đạo diễn, bộ phim đã nhận được sự hoan nghênh của giới phê bình, đặc biệt là phần thể hiện của cô trong vai một nhà viết ma 37 tuổi nghiện rượu, đã ly hôn trầm cảm. Richard Roeper đã trao giải A cho bộ phim, nói rằng "Charlize Theron đã mang đến một trong những màn trình diễn ấn tượng nhất trong năm". Cô được đề cử giải Quả cầu vàng và một số giải thưởng khác. Roger Ebert gọi cô ấy là một trong những diễn viên giỏi nhất làm việc hiện nay.

Vào năm 2019, Theron đã nói về phương pháp làm việc theo các vai trò của cô ấy. Cô ấy nói, tạo ra một bản sắc thể chất cùng với phần cảm xúc của nhân vật, là "một bộ công cụ tuyệt vời bổ sung cho mọi thứ khác mà bạn đã làm với tư cách là một diễn viên. Đó là tùy từng trường hợp, nhưng có, để tôi, điều tuyệt vời này xảy ra khi bạn có thể có được cả hai mặt: ngoại thất và nội thất. Đó là một động lực thực sự mạnh mẽ". Khi chuẩn bị cho một vai diễn, "Tôi gần như coi nó như việc học. Tôi sẽ tìm không gian nơi tôi ở một mình, nơi tôi có thể tập trung, nơi không có ai trong nhà và tôi thực sự có thể chỉ cần ngồi xuống và học, chơi và nhìn. khuôn mặt của tôi và nghe thấy giọng nói của tôi và đi xung quanh và là một tên ngốc chết tiệt và những con chó của tôi là những người duy nhất nhìn thấy điều đó".

2012–nay: Sự nổi dậy và được vinh danh nhiều hơn[sửa | sửa mã nguồn]

A photograph of Theron attending the 2012 WonderCon
Theron quảng bá Hành trình đến hành tinh chết tại WonderCon năm 2012.

Năm 2012, Theron đảm nhận vai phản diện trong hai bộ phim kinh phí lớn. Cô đóng vai Ác nữ Ravenna, mẹ kế độc ác của Bạch Tuyết, trong Snow White and the Huntsman, đối diện với Kristen StewartChris Hemsworth, và xuất hiện như một thành viên phi hành đoàn với một chương trình làm việc ẩn trong Prometheus của Ridley Scott. Mick LaSalle của San Francisco Chronicle nhận thấy Snow White and the Huntsman là "[một] bộ phim chậm rãi, nhàm chán, không có sức hấp dẫn và chỉ được làm nổi bật bởi một số hiệu ứng đặc biệt và nữ hoàng độc ác thực sự của Charlize Theron", Cây viết Todd McCarthy của The Hollywood Reporter, khi mô tả vai diễn của cô trong Prometheus, khẳng định: "Theron đang ở trong chế độ nữ thần băng giá ở đây, với điểm nhấn là băng [...] nhưng hoàn hảo cho vai diễn này". Cả hai bộ phim đều đạt doanh thu phòng vé lớn, thu về khoảng 400 triệu đô la Mỹ mỗi phim. Năm sau, Vulture/NYMag vinh danh cô ấy là Ngôi sao giá trị thứ 68 ở Hollywood và nói rằng: "Chúng tôi rất vui khi Theron có thể đứng trong danh sách trong một năm khi cô ấy không ra mắt bất cứ thứ gì [...] bất kỳ nữ diễn viên nào có kỹ năng, vẻ đẹp và sự dữ dội đó đều phải có một chỗ đứng lâu dài ở Hollywood". Vào ngày 10 tháng 5 năm 2014, Theron dẫn chương trình Saturday Night Live trên NBC. Vào năm 2014, Theron đảm nhận vai vợ của một kẻ sống ngoài vòng pháp luật khét tiếng trong bộ phim hài miền Tây A Million Ways to Die in the West của đạo diễn Seth MacFarlane.

Vào năm 2015, Theron đóng vai người sống sót duy nhất sau vụ thảm sát gia đình cô trong bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết Dark Places của Gillian Flynn, do Gilles Paquet-Brenner đạo diễn, trong đó cô có công của nhà sản xuất, và đóng vai Imperator Furiosa trong Mad Max: Fury Road (2015), cùng với Tom Hardy. Mad Max nhận được sự hoan nghênh của giới phê bình rộng rãi, với lời khen ngợi dành cho Theron vì bản chất thống trị của nhân vật của cô. Phim kiếm được 378,4 triệu đô la Mỹ trên toàn thế giới. Tiếp theo, cô đóng lại vai Nữ hoàng Ravenna trong bộ phim năm 2016 The Huntsman: Winter's War, phần tiếp theo của Snow White and the Huntsman, là một thất bại về mặt thương mại và phê bình. Vào năm 2016, Theron cũng đóng vai một bác sĩ và nhà hoạt động làm việc ở Tây Phi trong bộ phim lãng mạn ít được xem The Last Face, cùng với Sean Penn, đã lồng tiếng cho bộ phim giả tưởng chuyển động 3D Kubo and the Two Strings, và sản xuất bộ phim truyền hình độc lập Brain on Fire. Năm đó, Time đã ghi tên bà vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới của tạp chí Time.

Theron tại San Diego Comic-Con 2017.

Năm 2017, Theron đóng vai chính trong The Fate of the Furious với tư cách là nhân vật phản diện chính của toàn bộ loạt phim, và đóng vai một điệp viên trước sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào năm 1989 trong Atomic Blonde, chuyển thể từ tiểu thuyết đồ họa The Coldest City, do David Leitch đạo diễn. Với tổng doanh thu toàn cầu là 1,2 tỷ đô la Mỹ, The Fate of The Furious trở thành bộ phim được xem rộng rãi nhất của Theron, và Atomic Blonde được Richard Roeper của Chicago Sun-Times mô tả là "một phương tiện trơn trượt cho từ trường, vẻ quyến rũ của Charlize Theron, người hiện đã chính thức trở thành ngôi sao hành động hạng A nhờ sức mạnh của bộ phim này và Mad Max: Fury Road". Trong bộ phim hài đen Tully (2018), do Jason Reitman đạo diễn và Diablo Cody viết kịch bản, Theron đã vào vai một bà mẹ ba con choáng ngợp. Bộ phim được các nhà phê bình đánh giá cao. trải nghiệm làm cha mẹ hiện đại với sự pha trộn khéo léo đáng ngưỡng mộ giữa sự hài hước và sự chân thật thô sơ, được Charlize Theron thể hiện một cách xuất sắc". Cô cũng đóng vai chủ tịch một hãng dược phẩm trong bộ phim tội phạm ít được xem Gringo và sản xuất tiểu sử phim chính kịch chiến tranh A Private War, cả hai đều được phát hành vào năm 2018.

Năm 2019, Theron sản xuất và đóng vai chính trong bộ phim hài lãng mạn Long Shot, đối diện với Seth Rogen và đạo diễn bởi Jonathan Levine, miêu tả một Ngoại trưởng Hoa Kỳ kết nối lại với một nhà báo mà cô từng giữ trẻ. Bộ phim đã có buổi công chiếu đầu tiên trên thế giới tại South by Southwest vào tháng 3 năm 2019 và được phát hành vào ngày 3 tháng 5 năm 2019, trước những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình phim. Theron tiếp tục đóng vai Megyn Kelly trong bộ phim truyền hình Bombshell mà cô cũng đồng sản xuất. Do Jay Roach làm đạo diễn, phim xoay quanh những cáo buộc quấy rối tình dục chống lại Giám đốc điều hành của Fox News, Roger Ailescủa các nữ nhân viên cũ. Với vai diễn trong phim, Theron đã được đề cử cho Giải Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, Giải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong một bộ phim điện ảnh - chính kịch, Giải thưởng Phim do các nhà phê bình lựa chọn cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, Giải thưởng của Hiệp hội Diễn viên Màn ảnh cho Diễn xuất xuất sắc của Nữ diễn viên chính trong vai chính, và Giải BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Cùng năm đó, Forbes xếp cô là nữ diễn viên được trả thù lao cao thứ chín trên thế giới, với thu nhập hàng năm là 23 triệu đô la. Năm 2020, cô sản xuất và đóng vai chính cùng KiKi Layne trong The Old Guard, do Gina Prince-Bythewood đạo diễn. Năm sau, cô tái hiện vai diễn Cipher trong F9, ban đầu được ấn định phát hành vào ngày 22 tháng 5 năm 2020, trước khi hoãn đến tháng 6 năm 2021 do đại dịch COVID-19.

Khi bộ phim ra mắt vào tháng 5 năm 2022, đã có thông tin tiết lộ rằng Theron sẽ thể hiện nhân vật Clea trong Vũ trụ Điện ảnh Marvel (MCU), bắt đầu bằng màn ra mắt của cô trong cảnh mid-credit của bộ phim siêu anh hùng Doctor Strange in the Multiverse of Madness. Cô cũng sẽ đóng vai Lady Lesso trong bộ phim giả tưởng sắp tới The School for Good and Evil (2022).

Các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Theron phát biểu tại cuộc họp Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2013.

Dự án Charlize Theron Africa Outreach (CTAOP) được thành lập vào năm 2007 bởi Theron, người mà năm sau được vinh danh là Sứ giả Hòa bình của LHQ, với nỗ lực hỗ trợ thanh niên châu Phi trong cuộc chiến chống lại HIV/AIDS. Dự án cam kết hỗ trợ các tổ chức có sự tham gia của cộng đồng nhằm giải quyết các nguyên nhân chính gây ra căn bệnh này. Mặc dù phạm vi địa lý của CTAOP là Châu Phi cận Sahara, nhưng nơi tập trung chủ yếu là Nam Phi, quê hương của Charlize. Đến tháng 11 năm 2017, CTAOP đã huy động được hơn 6,3 triệu đô la để hỗ trợ các tổ chức châu Phi hoạt động trên thực địa.

Năm 2008, Theron được mệnh danh là Sứ giả Hòa bình của Liên hợp quốc. Trong phần trích dẫn của mình, Ban Ki-Moon nói về Theron "Bạn đã luôn cống hiến hết mình để cải thiện cuộc sống của phụ nữ và trẻ em ở Nam Phi, cũng như ngăn chặn và chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái". Cô ấy đã ghi lại một thông báo dịch vụ công vào năm 2014 như một phần của chương trình Stop Rape Now của họ.

Vào tháng 12 năm 2009, CTAOP và TOMS Shoes đã hợp tác để tạo ra một đôi giày unisex phiên bản giới hạn. Đôi giày được làm từ vật liệu thuần chay và lấy cảm hứng từ cây bao báp Châu Phi, hình bóng của cây được thêu trên vải màu xanh và cam. Mười nghìn chiếc cặp đã được trao cho trẻ em nghèo khó và một phần số tiền thu được sẽ được chuyển đến CTAOP.

Năm 2020, CTAOP hợp tác với Parfums Christian Dior để tạo ra Dior Stands With Women, một sáng kiến ​​bao gồm Cara Delevingne, Yalitza Aparicio, Leona Bloom, Paloma Elsesser và những người khác, nhằm khuyến khích phụ nữ quyết đoán bằng cách ghi lại hành trình, thử thách và thành tích của họ.

Theron tham gia vào các tổ chức quyền phụ nữ và đã tuần hành trong các cuộc biểu tình ủng hộ sự lựa chọn.

Theron là một người ủng hộ hôn nhân đồng giới và đã tham dự một cuộc tuần hành và biểu tình để ủng hộ điều đó ở Fresno, California, vào ngày 30 tháng 5 năm 2009. Cô công khai tuyên bố rằng cô từ chối kết hôn cho đến khi hôn nhân đồng giới trở thành hợp pháp ở Hoa Kỳ, nói: "Tôi không muốn kết hôn bởi vì hiện tại thể chế hôn nhân cảm thấy rất phiến diện và tôi muốn sống ở một đất nước mà tất cả chúng ta đều có quyền bình đẳng. Tôi nghĩ điều đó sẽ hoàn toàn giống nhau nếu chúng ta đã kết hôn, nhưng đối với tôi thì phải trải qua buổi lễ như vậy, vì tôi có rất nhiều bạn là đồng tính nam và đồng tính nữ, những người rất muốn kết hôn, đến nỗi tôi không thể ngủ với chính mình". Theron giải thích thêm về lập trường của cô ấy trong một cuộc phỏng vấn tháng 6 năm 2011 trên Piers Morgan Đêm nay. Cô nói: "Tôi thực sự có vấn đề với thực tế là chính phủ của chúng tôi đã không đủ sức mạnh để biến điều này trở thành liên bang, để làm cho [hôn nhân đồng tính] trở thành hợp pháp. Tôi nghĩ mọi người đều có quyền đó".

Vào tháng 3 năm 2014, CTAOP là một trong những tổ chức từ thiện được hưởng lợi từ sự kiện gây quỹ Danh vọng và Từ thiện hàng năm vào đêm Lễ trao giải Oscar lần thứ 86. Theron là khách mời danh dự cùng với Halle Berry và diễn giả chính James Cameron.

Vào năm 2015, Theron đã ký một bức thư ngỏ mà One Campaign đã thu thập chữ ký; bức thư được gửi tới Angela Merkel và Nkosazana Dlamini-Zuma, kêu gọi họ tập trung vào phụ nữ khi họ đóng vai trò là người đứng đầu G7 ở Đức và AU ở Nam Phi, sẽ bắt đầu đặt ra các ưu tiên trong tài trợ phát triển trước khi Hội nghị thượng đỉnh chính của Liên hợp quốc vào tháng 9 năm 2015 sẽ thiết lập các mục tiêu phát triển mới cho thế hệ này.  Vào tháng 8 năm 2018, cô đến thăm Nam Phi cùng với Trevor Noah và quyên góp cho tổ chức từ thiện Life Choices ở Nam Phi. Năm 2018, cô đã có bài phát biểu về phòng chống AIDS tại Hội nghị Phòng chống AIDS Quốc tế lần thứ 22 ở Amsterdam, do Hiệp hội Phòng chống AIDS Quốc tế tổ chức.

Từ năm 2008, Theron chính thức được công nhận là Sứ giả Hòa bình của Liên hợp quốc.

Sự xác nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ký hợp đồng với John Galliano vào năm 2004, Theron đã thay thế người mẫu Estonia Tiiu Kuik làm người phát ngôn trong các quảng cáo J'Adore của Christian Dior. Năm 2018, cô xuất hiện trong một quảng cáo mới cho Dior J'adore. Từ tháng 10 năm 2005 đến tháng 12 năm 2006, Theron kiếm được 3 triệu đô la Mỹ cho việc sử dụng hình ảnh của mình trong một chiến dịch quảng cáo trên các phương tiện truyền thông báo in trên toàn thế giới cho đồng hồ Raymond Weil. Vào tháng 2 năm 2006, cô và công ty sản xuất của mình bị Weil kiện vì vi phạm hợp đồng. Vụ kiện được giải quyết vào ngày 4 tháng 11 năm 2008. Năm 2018, Theron tham gia cùng Brad Pitt, Daniel Wu và Adam Driver làm đại sứ thương hiệu cho Breitling, được mệnh danh là Biệt đội Điện ảnh Breitling.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Cô hiện sống ở Los Angeles, California.[2] Theron trở thành công dân Mỷ vào tháng 5 năm 2007,[3] tuy nhiên cô vẫn giữ quốc tịch Nam Phi.[4] Theron đã nhận nuôi hai người con: một con gái, Jackson vào tháng 3 năm 2012[5] và một con gái khác, vào tháng 7 năm 2015. Cô đã quan tâm đến việc nhận con nuôi kể từ khi còn nhỏ, khi cô biết đến các trại trẻ mồ côi và số lượng trẻ em quá đông trong chúng. Vào tháng 4 năm 2019, Theron tiết lộ rằng Jackson, khi đó 7 tuổi, là một cô gái chuyển giới. Bà nói về các con gái của mình, "Chúng sinh ra là ai, và chính xác nơi nào trên thế giới này mà cả hai sẽ tìm thấy chính mình khi lớn lên, và chúng muốn trở thành ai, không phải do tôi quyết định".

Cô được lấy cảm hứng từ hai nữ diễn viên Susan Sarandon và Sigourney Weaver. Cô mô tả sự ngưỡng mộ của mình dành cho Tom Hanks như một "mối tình" và đã xem nhiều phim của anh ấy trong suốt thời trẻ. Các diễn viên Hollywood chưa bao giờ được xuất hiện trên các tạp chí ở Nam Phi nên cô ấy không bao giờ biết mình nổi tiếng như thế nào cho đến khi chuyển đến Hoa Kỳ, được suy luận là một yếu tố khiến cô ấy "bình thường" thái độ đối với sự nổi tiếng. Sau khi quay phim That Thing You Do! kết thúc, Theron có chữ ký của Hanks trên kịch bản của cô ấy. Sau đó, cô ấy giới thiệu cho anh ấy Giải thưởng Cecil B. DeMille năm 2020, trong đó Hanks tiết lộ rằng anh đã ngưỡng mộ sự nghiệp của Theron kể từ ngày anh gặp cô.

Theron cho biết vào năm 2018 rằng cô đã đi trị liệu ở tuổi 30 vì tức giận, phát hiện ra rằng đó là do sự thất vọng của cô lớn lên trong thời kỳ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, kết thúc khi cô 15 tuổi.

Các mối quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ công khai đầu tiên của Theron là với nam diễn viên Craig Bierko, người mà cô hẹn hò từ năm 1995 đến năm 1997.

Theron có mối quan hệ ba năm với ca sĩ Stephan Jenkins cho đến tháng 10 năm 2001. Một số trong album thứ ba của Third Eye Blind, Out of the Vein, khám phá những cảm xúc mà Jenkins trải qua sau cuộc chia tay của họ.

Theron bắt đầu mối quan hệ với nam diễn viên người Ireland, Stuart Townsend vào năm 2001 sau khi gặp anh trên phim trường Trapped. Cặp đôi đã sống cùng nhau ở Los Angeles và Ireland. Cặp đôi chia tay vào cuối năm 2009.

Vào tháng 12 năm 2013, Theron bắt đầu hẹn hò với nam diễn viên người Mỹ Sean Penn. Mối quan hệ kết thúc vào tháng 6 năm 2015.

Mối quan tâm về sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Theron thường châm biếm rằng cô ấy bị thương nhiều hơn trên những phim trường không phải là phim hành động; Tuy nhiên, trong khi quay phim Æon Flux ở Berlin, Theron bị thoát vị đĩa đệm ở cổ, do bị ngã trong khi quay một loạt các động tác quay tay. Cô phải đeo nẹp cổ trong một tháng. Dây chằng ngón tay cái của cô ấy bị rách trong The Old Guard khi ngón tay cái của cô ấy mắc vào áo khoác của một diễn viên khác trong một cảnh đánh nhau, đòi hỏi ba lần phẫu thuật và sáu tháng trong một lần nẹp ngón tay cái. Không có thương tích lớn nào trong quá trình quay phim Atomic Blonde nhưng cô ấy bị gãy răng do nghiến hàm và phải phẫu thuật nha khoa để loại bỏ chúng một con vít kim loại trong đó."

Ngoài những bộ phim hành động, cô còn bị thoát vị đĩa đệm ở lưng dưới khi đóng phim Tully và cũng bị chứng trầm cảm giống như chứng trầm cảm, mà cô cho rằng đó là kết quả của thức ăn đã qua chế biến mà cô phải ăn cho cơ thể sau khi sinh của nhân vật. Vào tháng 7 năm 2009, cô được chẩn đoán mắc một loại vi-rút dạ dày nghiêm trọng, được cho là đã mắc bệnh khi ở nước ngoài. Trong khi quay The Road, Theron bị thương dây thanh quản của cô ấy trong những cảnh la hét khi chuyển dạ. Trong công việc người mẫu đầu tiên của cô ấy ở Maroc, con lạc đà cô ngồi trên đập đầu nó vào hàm khiến hai người trật khớp. Khi quảng bá cho Long Shot, cô ấy tiết lộ rằng cô ấy đã cười rất nhiều với Borat đến mức cổ bị khóa trong năm ngày. Sau đó, cô ấy nói thêm rằng trong set Long Shot, cô ấy "kết thúc bằng ER" sau khi đập đầu vào băng ghế phía sau khi cô ấy đang đặt miếng đệm đầu gối.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

NămPhimVai diễnGhi chúNguồn
1995Children of the Corn III: Urban HarvestEli's FollowerKhông xuất hiện trong credit; Hậu kỳ[6][7]
19962 Days in the ValleyHelga Svelgen[8][9]
That Thing You Do!Tina Powers[10][11]
1997Trial and ErrorBillie Tyler[12]
The Devil's AdvocateMary Ann Lomax[13]
1998CelebritySupermodel[14]
Mighty Joe YoungJill Young[13]
1999The Astronaut's WifeJillian Armacost[15]
The Cider House RulesCandy Kendall[13]
2000Reindeer GamesAshley Mercer[11][16]
The YardsErica Stoltz[13]
Men of HonorGwen Sunday[17]
The Legend of Bagger VanceAdele Invergordon[13]
2001Sweet NovemberSara Deever[13]
15 MinutesRose Hearn[18]
The Curse of the Jade ScorpionLaura Kensington[13]
2002TrappedKaren Jennings[19]
Waking Up in RenoCandy Kirkendall[20]
2003The Italian JobStella Bridger[13]
MonsterAileen WuornosĐồng thời là nhà sản xuất[21]
2004Head in the CloudsGilda Bessé[13]
2005North CountryJosey Aimes[13]
Æon FluxÆon Flux[22]
2006East of HavanaN/ANhà sản xuất

Phim tài liệu

[23][24]
2007In the Valley of ElahDet. Emily Sanders[13]
Battle in SeattleElla[13][25]
2008SleepwalkingJoleen ReedyĐồng thời là nhà sản xuất[26]
HancockMary Embrey[13]
The Burning PlainSylviaĐồng giám đốc sản xuất[13][27]
2009The RoadWife[13]
Astro BoyNgười dẫn chuyện (lồng tiếng)[13]
2011Young AdultMavis Gary[13]
2012Snow White and the HuntsmanQueen Ravenna[28]
PrometheusMeredith Vickers[29]
2014A Million Ways to Die in the WestAnna[13]
2015Dark PlacesLibby DayĐồng thời là nhà sản xuất[30]
Mad Max: Fury RoadImperator Furiosa[31]
2016The Huntsman: Winter's WarQueen Ravenna[32]
The Last FaceWren Petersen[33]
Kubo and the Two StringsMonkey (lồng tiếng)[34][35]
Brain on FireN/ANhà sản xuất[36]
2017Atomic BlondeLorraine BroughtonĐồng thời là nhà sản xuất[37]
The Fate of the FuriousCipher[38]
2018TullyMarloĐồng thời là nhà sản xuất[39]
GringoMarkinson, ElaineElaine MarkinsonĐồng thời là nhà sản xuất[40]
2019Long ShotField, CharlotteCharlotte FieldĐồng thời là nhà sản xuất[41]
Murder MysteryN/AGiám đốc sản xuất[42]
Addams Family, TheThe Addams FamilyAddams, MorticiaMorticia Addams (lồng tiếng)Đồng giám đốc sản xuất[43]
BombshellKelly, MegynMegyn KellyĐồng thời là nhà sản xuất[44]
2020The Old GuardAndy / Andromache of ScythiaĐồng thời là nhà sản xuất[45]
2021F9Cipher[46]
Addams Family 2, TheThe Addams Family 2Addams, MorticiaMorticia Addams (lồng tiếng)[47]
2022Doctor Strange in the Multiverse of MadnessCleaCameo[48]
School for Good and Evil, TheThe School for Good and Evil Films that have not yet been releasedLesso, LadyLady LessoĐang sản xuất[49]
2023Fast X Films that have not yet been releasedCipherĐang ghi hình[50]
2024Fast & Furious 11 Films that have not yet been releasedĐang sản xuất[51]
TBAThe Old Guard 2 Films that have not yet been releasedAndy / Andromache of ScythiaĐang sản xuất[52]

Ghi chú

Films that have not yet been releasedPhim chưa phát hành

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

NămTiêu đềVai diễnGhi chúNguồn
1997Hollywood ConfidentialSally BowenTelevision film[53]
2000Saturday Night LiveHostEpisode: "Charlize Theron / Paul Simon"[54]
2004The Life and Death of Peter SellersEkland, BrittBritt EklandTelevision film[55]
2005Arrested DevelopmentRita Leeds5 episodes[56]
2006Robot ChickenDaniel's Mom / Mother / Waitress (voice)Episode: "Book of Corrine"[57]
2013Hatfields & McCoysTBAExecutive producer; television pilot[58]
2014Saturday Night LiveHostEpisode: "Charlize Theron / The Black Keys"[59]
2017GirlbossN/AExecutive producer; 13 episodes[60]
The OrvilleLavesque, PriaPria LavesqueEpisode: "Pria"[61]
2017–2019MindhunterTBAExecutive producer; 19 episodes[62]
2019HyperdriveTBAExecutive producer; 10 episodes[63]
2020Home Movie: The Princess BrideFezzikEpisode: "Have Fun Storming The Castle!"[64]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Awards and nominations received by Charlize Theron
OrganizationsYear[a]WorkCategoryResultRef(s)
Academy Awards 2004MonsterBest ActressWon[65]
2006North CountryĐề cử[66]
2020BombshellĐề cử[67]
Australian Academy of Cinema and Television Arts Awards2016Mad Max: Fury RoadBest International Lead Actress – CinemaĐề cử[68][69]
Best Lead Actress – CinemaĐề cử
2020BombshellBest International Lead Actress – CinemaĐề cử[70]
BAFTA Awards 2005MonsterBest Film Actress in a Leading RoleĐề cử[71]
2006North CountryĐề cử[72]
2020BombshellĐề cử[73]
Berlin International Film Festival2004MonsterSilver Bear for Best Actress[b]Won[74]
Bambi Award2000The Cider House RulesShooting Star: FemaleWon[75]
Chicago Film Critics Association Awards 2003MonsterBest ActressWon[76]
2014Mad Max: Fury RoadĐề cử[77]
Critics' Choice Awards2004MonsterBest Movie ActressWon[78]
2006North CountryĐề cử[79]
2012Young AdultĐề cử[80]
2016Mad Max: Fury RoadBest Action Movie ActressWon[81]
Best Movie ActressĐề cử
2019TullyBest Comedy Movie ActressĐề cử[82]
2020BombshellBest Movie ActressĐề cử[83]
Best Movie CastĐề cử
Dallas–Fort Worth Film Critics Association 2003MonsterBest ActressWon[84]
2005North CountryĐề cử[85]
2011Young AdultĐề cử[86]
2015Mad Max: Fury RoadĐề cử[87]
2019BombshellĐề cử[88]
Detroit Film Critics Society Awards2011Young AdultBest ActressĐề cử[89]
2019BombshellĐề cử[90]
Emmy Awards (Primetime)2005The Life and Death of Peter SellersOutstanding Supporting Actress in a Limited Series or Television MovieĐề cử[91]
Florida Film Critics Circle Award 2019BombshellBest ActressĐề cử[92]
Film Independent Spirit Awards2004MonsterBest Female LeadWon[93]
Best First Feature Film ProductionWon
Golden Globe Awards 2004MonsterBest Actress in a Motion Picture – DramaWon[94]
2005The Life and Death of Peter SellersBest Supporting Actress – Series, Miniseries, or Motion Picture Made for TelevisionĐề cử
2006North CountryBest Actress in a Motion Picture – DramaĐề cử
2012Young AdultBest Actress in a Motion Picture – Musical or ComedyĐề cử
2019TullyĐề cử
2020BombshellBest Actress in a Motion Picture – DramaĐề cử
Georgia Film Critics Association2011Young AdultBest ActressĐề cử[95]
Golden Raspberry Awards2002Sweet NovemberWorst ActressĐề cử[96]
2015A Million Ways to Die in the WestĐề cử[97]
Worst Screen Combo (with Seth MacFarlane)Đề cử
Hollywood Critics Association Award 2019BombshellBest ActressĐề cử[98]
Houston Film Critics Society Award2019BombshellBest ActressĐề cử[99]
Hollywood Film Award2005North CountryBest Actress of the YearWon[100]
International Online Film Critics' Poll 2010MonsterBest Actress of the DecadeWon[101]
Irish Film & Television Drama Academy2004MonsterBest Film International ActressĐề cử[102]
London Film Critics' Circle Awards 2004MonsterActress of the YearĐề cử[103]
2019BombshellĐề cử[104]
Los Angeles Film Critics Association2003MonsterBest Actress2nd place[105]
MTV Movie & TV Awards 2004MonsterBest Kiss of the Year in a Movie[c]Đề cử[106]
Best Performance of the Year in a MovieĐề cử
2016Mad Max: Fury RoadBest Fight of the Year in a Movie[d]Đề cử[107]
Best Hero of the Year in a MovieĐề cử
Best Performance of the Year in a MovieĐoạt giải
2018Atomic BlondeBest Fight of the Year in a Movie[e]Đề cử[108]
National Board of Review 2003MonsterBest Breakthrough PerformanceWon[109]
National Society of Film Critics2003MonsterBest ActressWon[110]
New York Film Critics Circle Award2003MonsterBest Actress3rd place[111]
New York Film Critics Online2003MonsterBest ActressWon[112]
Nickelodeon Kids' Choice Awards2017The Huntsman: Winter's WarFavorite VillainĐề cử[113]
Favorite Frenemies (shared with Emily Blunt)Đề cử
2022The Addams Family 2Favorite Voice from an Animated MovieĐề cử[114]
Online Film Critics Society 2003MonsterBest ActressĐề cử[115]
2015Mad Max: Fury RoadĐề cử[116]
Palm Springs International Film Festival 2006North CountryDesert Palm Achievement AwardWon[117]
2012Young AdultChairman's Vanguard AwardWon
2020BombshellInternational Star AwardWon[118]
People's Choice Awards2013PrometheusFavorite Dramatic Movie ActressĐề cử[119]
Snow White and the HuntsmanĐề cử
2016Mad Max: Fury RoadFavorite Action Movie ActressĐề cử[120]
Satellite Awards 2000The Cider House RulesBest Supporting Actress in a FilmĐề cử[121]
2011Young AdultBest Actress in a FilmĐề cử[122]
2020BombshellĐề cử[123]
Saturn Awards2010The Burning PlainBest Film Lead ActressĐề cử[124]
2013Snow White and the HuntsmanBest Film Supporting ActressĐề cử[125]
2015Mad Max: Fury RoadBest Film Lead ActressWon[126]
Spike Video Game Award2005Aeon FluxBest Performance by a FemaleWon[127]
San Francisco Film Critics Circle2003MonsterBest ActressWon[128]
2019BombshellĐề cử[129]
Screen Actors Guild Awards2000The Cider House RulesOutstanding Motion Picture CastĐề cử[130]
2004MonsterOutstanding Motion Picture ActressWon[131]
2005The Life and Death of Peter SellersOutstanding Miniseries or Motion Picture Made for Television ActressĐề cử[132]
2006North CountryOutstanding Motion Picture ActressĐề cử
2020BombshellĐề cử[133]
Outstanding Motion Picture CastĐề cử
St. Louis Film Critics Association2018TullyBest ActressĐề cử[134]
2019BombshellĐề cử[135]
Teen Choice Awards 2012Snow White and the HuntsmanChoice Movie: Hissy FitWon[136]
Choice Movie: VillainĐề cử[137]
PrometheusChoice Movie: Summer ActressĐề cử
2016The Huntsman: Winter's WarChoice Movie: Sci-Fi/Fantasy ActressĐề cử[138]
Choice Movie: VillainĐề cử
2017The Fate of the FuriousChoice Movie: VillainĐề cử[139]
Vancouver Film Critics Circle 2003MonsterBest ActressWon[140]
Washington D.C. Area Film Critics Association Awards 2005North CountryBest ActressĐề cử[141]
2015Mad Max: Fury RoadĐề cử[142]
Women Film Critics Circle2017Atomic BlondeCourage in ActingĐề cử[143]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách giải thưởng trao cho Charlize Theron
Danh hiệuNămNguồn
American Cinematheque Award2019[144][145]
Hollywood Career Achievement Award2019[146]
Hollywood Walk of Fame2005[147]
Indie Impact Award2012[148]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Year in which award ceremony was held
  2. ^ Tied with Catalina Sandino Moreno for Maria Full of Grace
  3. ^ Shared with Christina Ricci.
  4. ^ Shared with Tom Hardy.
  5. ^ shared with Daniel Hargrave and Greg Rementer.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Charlize Theron Speaks Afrikaans”. Youtube. ngày 30 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2012. Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  2. ^ Caris Davis (ngày 11 tháng 12 năm 2011). “Charlize Theron's Home Burglarized”. People. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2012.
  3. ^ Rosen, Judy (ngày 12 tháng 3 năm 2008). “Charlize Theron: Glad To Be A U.S. Citizen”. CBS News. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2008.
  4. ^ Tourtellotte, Bob (ngày 9 tháng 2 năm 2008). “Charlize Theron's awakening”. The Courier-Mail. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2011. Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl=|archive-url= (trợ giúp)
  5. ^ “Charlize Theron Adopts a Baby Boy”. People. ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập 16< March 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp)
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên EW2
  7. ^ “Children of the Corn III: Urban Harvest (1995)”. Rotten Tomatoes. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  8. ^ Mackie, Rob (19 tháng 3 năm 1999). “What's all the fuss about... Charlize Theron”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  9. ^ Ebert, Roger. “2 Days In The Valley Movie Review (1996)”. Roger Ebert. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2016.
  10. ^ “That Thing You Do! (1996)”. Rotten Tomatoes. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  11. ^ a b Karsten, Chris (2011). Charlize (bằng tiếng Afrikaans). Cape Town: Human & Rousseau. tr. 308. ISBN 978-1-920323-71-4.
  12. ^ Anderson, John (30 tháng 5 năm 1997). “Theron Lights Up Screen in Uneven 'Trial'. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  13. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r “Charlize Theron Movie Reviews & Film Summaries”. Roger Ebert. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  14. ^ Maslin, Janet (25 tháng 9 năm 1998). “Celebrity (1998) Film Festival Review; Jostling and Stumbling Toward a Fateful 15 Minutes”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  15. ^ Maslin, Janet (28 tháng 8 năm 1999). “The Astronaut's Wife (1999) Film Review; After a Space Jaunt, He's Odd, but He Loves His Wife”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  16. ^ Ebert, Roger (25 tháng 2 năm 2000). “Reindeer Games Movie Review & Film Summary (2000)”. Roger Ebert. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  17. ^ Ebert, Roger (10 tháng 11 năm 2000). “Men of Honor Movie Review & Film Summary (2000)”. Roger Ebert. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  18. ^ McCarthy, Todd (1 tháng 3 năm 2001). “Review: '15 Minutes'. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  19. ^ Holden, Stephen (21 tháng 9 năm 2002). “Film Review; When a Perfect Scheme Doesn't Work Perfectly”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  20. ^ “Patrick Swayze”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  21. ^ Holden, Stephen (24 tháng 12 năm 2003). “Monster (2003) Film Review; A Murderous Journey To Self-Destruction”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  22. ^ Anderson, John (5 tháng 12 năm 2005). “Despite Theron, 'Flux' lacks spark”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  23. ^ Higgins, Charlotte (24 tháng 8 năm 2006). “Play it tough”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  24. ^ “Theron denies pro-US bias in film”. BBC News. 19 tháng 8 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  25. ^ “Toronto Film Festival”. CBS News. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  26. ^ Holden, Stephen (14 tháng 3 năm 2008). “On the Road to Nowhere in Down-and-Out America”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  27. ^ Bradshaw, Peter (13 tháng 3 năm 2009). “The Burning Plain”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  28. ^ Pols, Mary (31 tháng 5 năm 2012). “Snow White and the Huntsman: The Fairest Feminist of Them All”. Time. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  29. ^ French, Philip (3 tháng 6 năm 2012). “Prometheus – review”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  30. ^ “Dark Places (2015)”. Movies & TV Dept. The New York Times. Baseline & All Movie Guide. 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  31. ^ Shoard, Catherine (14 tháng 5 năm 2015). “Charlize Theron on Mad Max: 'We live in a very toxic world'. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  32. ^ Lazarus, Susanna (19 tháng 3 năm 2015). “Sheridan Smith and Rob Brydon cast as dwarves in Snow White and the Huntsman prequel”. Radio Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  33. ^ Gleiberman, Owen (20 tháng 5 năm 2016). “Cannes Film Review: 'The Last Face'. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016.
  34. ^ White, James (13 tháng 12 năm 2015). “First trailer for new animated movie Kubo And The Two Strings”. Empire. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2015.
  35. ^ Brady, Tara (8 tháng 9 năm 2016). “Kubo and the Two Strings review: another gorgeous, thoughtful gem from Laika”. The Irish Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018.
  36. ^ McNary, Dave (7 tháng 7 năm 2015). “Broad Green Boards Charlize Theron-Produced 'Brain on Fire'. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  37. ^ Barker, Andrew (13 tháng 3 năm 2017). “SXSW Film Review: 'Atomic Blonde'. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017.
  38. ^ Galuppo, Mia (20 tháng 5 năm 2016). “First Look: Charlize Theron in 'Fast 8'. The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016.
  39. ^ McNary, Dave (6 tháng 5 năm 2016). “Charlize Theron Comedy 'Tully' From Jason Reitman Gets Financing”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2016.
  40. ^ Busch, Anita (19 tháng 5 năm 2017). “Nash Edgerton Film Starring David Oyelowo, Charlize Theron Gets Title, Release Date”. Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017.
  41. ^ Brody, Richard (6 tháng 5 năm 2019). 'Long Shot,' Reviewed: A Timid Political Rom-Com with the Politics Removed”. New Yorker. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
  42. ^ “Murder Mystery”. Metacritic. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
  43. ^ 'The Addams Family' Review: A Mostly Snappy Reboot”. The New York Times. 10 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
  44. ^ Gonzalez, Sandra (2 tháng 11 năm 2019). “Charlize Theron had some doubts about playing Megyn Kelly in 'Bombshell'. CNN. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
  45. ^ Clarke, Stewart (21 tháng 6 năm 2019). “Chiwetel Ejiofor Joins Charlize Theron's Netflix Movie 'The Old Guard'. Variety. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
  46. ^ Jones, Marcus (2 tháng 9 năm 2019). “Charlize Theron ditches the dreads for Cipher's return in Fast & Furious 9”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
  47. ^ Sweltz, Jake (7 tháng 7 năm 2021). 'The Addams Family 2' Trailer: Oscar Isaac, Charlize Theron & More Return As Your Spooky Animated Favorites”. The Playlist. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2021.
  48. ^ 'Doctor Strange in the Multiverse of Madness' Has Two Post Credits Scenes”. Geek Culture (bằng tiếng Anh). 3 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2022.
  49. ^ Hipes, Patrick (19 tháng 2 năm 2021). “Kerry Washington And Charlize Theron Join Netflix's 'The School For Good And Evil'. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2021.
  50. ^ Houghton, Rianne (25 tháng 4 năm 2022). “Fast X star reveals first look at returning Fast & Furious villain”. Digital Spy. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2022.
  51. ^ E. Thomas, Shain (6 tháng 3 năm 2022). “Coming Soon: "F&F 10" and "11". HarshLightNews. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2022.
  52. ^ Rajput, Priyanca (23 tháng 9 năm 2022). “Netflix's The Old Guard 2 wraps filming in Rome”. KFTV.com.
  53. ^ Everett, Todd (14 tháng 4 năm 1997). “Review: 'Hollywood Confidential'. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  54. ^ “SNL Season 26 Episode 04”. NBC. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2015.
  55. ^ McCarthy, Todd (21 tháng 5 năm 2004). “Review: 'The Life and Death of Peter Sellers'. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  56. ^ Bonaime, Ross (29 tháng 5 năm 2013). “The 15 Best Episodes of Arrested Development (Seasons 1–3)”. Paste. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  57. ^ “Book of Corrine”. The Big Cartoon DataBase. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2015.
  58. ^ Andreeva, Nellie (28 tháng 2 năm 2013). “Sophia Bush To Star In NBC Pilot 'Hatfields & McCoys', 'The Selection' Finds Celeste”. Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2015.
  59. ^ “From the Set: Charlize Theron and The Black Keys”. NBC. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2015.
  60. ^ Roshanian, Arya (18 tháng 4 năm 2017). “Netflix's 'Girlboss' Creator on Show's Message to Women: 'You Can Fail and Be OK'. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2017.
  61. ^ Snierson, Dan (21 tháng 7 năm 2017). “Charlize Theron to guest on Seth MacFarlane's space-set series The Orville”. Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017.
  62. ^ Tartaglione, Nancy (1 tháng 3 năm 2017). 'Mindhunter' Teaser: First Look At Netflix's David Fincher-Charlize Theron Crime Series”. Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  63. ^ Gomez, Patrick (1 tháng 8 năm 2019). “Why Charlize Theron is heading to reality TV (and stunt driving) in Netflix's Hyperdrive: 'I love the speed'. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
  64. ^ Weiss, Josh (10 tháng 7 năm 2020). “Rob Reiner, Legos, and more: An Inconceivable! guide to Quibi's DIY Princess Bride Remake”. Syfy. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2020.
  65. ^ “Charlize Theron Wins Best Actress Award”. The New York Times. Associated Press. 29 tháng 2 năm 2004. ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  66. ^ Blynn, Jamie (7 tháng 2 năm 2020). “Charlize Theron's Oscars Looks Prove She's Always Had Bombshell Style”. E!. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  67. ^ Directo-Meston, Danielle (9 tháng 2 năm 2020). “Black-and-White Elegance Ruled the Oscars Red Carpet”. The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  68. ^ Windsor, Harry (5 tháng 1 năm 2016). “Nominees announced for AACTA's 5th International Awards”. IF Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  69. ^ “International Awards”. AACTA Awards. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  70. ^ Vlessing, Etan (3 tháng 1 năm 2020). 'Parasite' Named Best Picture by Australia's AACTA Awards”. The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2020.
  71. ^ “2005 Film Actress in a Leading Role”. BAFTA Awards. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  72. ^ “2006 Film Actress in a Leading Role”. BAFTA Awards. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  73. ^ “2020 Film Leading Actress”. BAFTA Awards. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  74. ^ Krishnamurthy, Chaitra (24 tháng 2 năm 2020). “Charlize Theron says 'Monster' was defining moment in career which got her more challenging roles”. Meaww. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  75. ^ Meza, Ed (12 tháng 12 năm 2000). “De Mol, Lopez among Bambi winners”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  76. ^ “Chicago Film Critics Awards – 1998-07”. Chicago Film Critics Association. 28 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  77. ^ “2015 Chicago Film Critics Association Awards”. Chicago Film Critics Association. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  78. ^ “The 9th Critics' Choice Movie Awards Winners And Nominees”. Broadcast Film Critics Association. 10 tháng 1 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  79. ^ Blynn, Jamie (7 tháng 2 năm 2020). “Charlize Theron's Oscars Looks Prove She's Always Had Bombshell Style”. E!. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  80. ^ Hutchings, Lucy (13 tháng 1 năm 2012). “Critic's Choice Movie Awards”. British Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  81. ^ Gray, Tim (14 tháng 12 năm 2015). “Critics' Choice Award Nominations: Complete List”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  82. ^ Tapley, Kristopher (14 tháng 1 năm 2019). 'Roma,' 'The Americans' and 'The Marvelous Mrs. Maisel' Win Top Critics' Choice Honors”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  83. ^ Hammond, Pete (8 tháng 12 năm 2019). 'The Irishman', 'Once Upon A Time in Hollywood' Lead Critics' Choice Nominations; Netflix Dominates With 61 Noms in Movies And TV”. Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2019.
  84. ^ “Dallas Film Critics Honor Jackson, 'Rings'. Fox News Channel. Associated Press. 7 tháng 1 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  85. ^ Jorgenson, Todd (20 tháng 12 năm 2005). “Dallas-Fort Worth Film Critics 2005 Awards”. Rotten Tomatoes. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  86. ^ Smith, Nigel M. (16 tháng 12 năm 2011). “Dallas-Fort Worth Film Critics Name 'Descendants' Top Film of 2011”. IndieWire. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  87. ^ Whale, Chase (14 tháng 12 năm 2015). “Dallas-fort Worth Film Critics Name "Spotlight" Best Picture Of 2015”. Dallas-Fort Worth Film Critics Association. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  88. ^ Holt, Jo Ann (23 tháng 12 năm 2019). “DFW Film Critics Name "1917" Best Picture for 2019”. Focus Daily News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  89. ^ Magidson, Joey (12 tháng 12 năm 2011). “Detroit Film Critics Society Nominations!”. AwardsCircuit. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  90. ^ “The 2019 Detroit Film Critics Society Awards”. Detroit Film Critics Society Awards. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  91. ^ “57th Annual Primetime Emmy Awards”. United Press International. United Press International. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  92. ^ Anderson, Erik (19 tháng 12 năm 2019). “Florida Film Critics Circle (FFCC) nominations: 'Marriage Story' leads”. AwardsWatch. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  93. ^ Hernandez, Eugene (28 tháng 2 năm 2004). "Lost in Translation" Tops Independent Spirit Awards, "Station Agent" Another Big Winner”. IndieWire. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2012.
  94. ^ “Golden Globe Awards for 'Charlize Theron'. Golden Globe Awards. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  95. ^ “2011 Georgia Film Critics Association Awards”. Georgia Film Critics Association. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  96. ^ Davis, Leslie D. (9 tháng 5 năm 2020). “13 Holiday Classics That Originally Bombed at the Box Office”. Reader's Digest. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  97. ^ Collinson, Gary (22 tháng 2 năm 2015). “Razzie Awards: 'Winners' of the 2015 Golden Raspberry Awards revealed”. Flickering Myth. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  98. ^ Neglia, Matt (11 tháng 11 năm 2019). “The 2019 Hollywood Critics Association (HCA) Nominations”. Next Best Picture. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  99. ^ Haar, Pete Vonder (20 tháng 12 năm 2019). “It's Hooray For Hollywood (and Marriage) As The Houston Film Critics Society Announces Its 2019 Nominees”. Houston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  100. ^ Feinberg, Scott (29 tháng 10 năm 2019). “Hollywood Film Awards: 'Bombshell' Star Charlize Theron Set for Career Achievement Award”. The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  101. ^ “2nd Edition – International Online Film Critics' Poll”. International Online Film Critics' Poll. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  102. ^ “Winners of the 2nd Annual Irish Film & Television Awards”. Irish Film & Television Awards. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  103. ^ “Critics to honour Ken Loach”. Manchester Evening News. 19 tháng 2 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  104. ^ Cline, Rich (17 tháng 12 năm 2019). “The Souvenir leads nominees for Critics' Circle Film Awards”. The Critics' Circle. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  105. ^ King, Susan (9 tháng 1 năm 2004). 'Splendor' is L.A. critics' best film”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  106. ^ Borgo, Érico (22 tháng 4 năm 2004). “Indicados ao MTV Movie Awards 2004”. Omelete (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  107. ^ Odiamar, Danielle (11 tháng 4 năm 2016). “MTV Movie Awards 2016: A Complete List of Nominees and Winners”. Elle. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  108. ^ Jones, Abby (3 tháng 5 năm 2018). “MTV Movie & TV Awards 2018 Nominations: Full List”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  109. ^ “2003 Archives”. National Board of Review. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  110. ^ King, Susan (4 tháng 1 năm 2004). “Critics Group Names 'American Splendor' Top Film”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  111. ^ Reed, Rex (19 tháng 1 năm 2004). “Even the young people at my table walked out”. The New York Observer. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  112. ^ “New York Film Critics Online – Awards Archive (2001–2019)”. New York Film Critics Online. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  113. ^ Vulpo, Mike (11 tháng 3 năm 2017). “Kids' Choice Awards 2017 Winners: The Complete List”. E!. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  114. ^ Erik Pedersen (9 tháng 3 năm 2022). “Kids' Choice Awards Nominations Set; Miranda Cosgrove & Rob Gronkowski To Host Show”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2022.
  115. ^ Ochieng, Frank (30 tháng 12 năm 2003). “The 2003 Online Film Critics Nominations”. The World. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  116. ^ “2015 Awards (19th Annual)”. Online Film Critics Society. 7 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  117. ^ “Charlize Theron to receive the International Star Award: Actress”. Palm Springs International Film Festival. 21 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  118. ^ “Palm Springs International Film Festival Awards Gala”. Palm Springs International Film Festival. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  119. ^ “Nominees Announced for the 'People's Choice Awards 2013'. TV By The Numbers. 15 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  120. ^ “People's Choice Awards: Fan Favorites in Movies, Music & TV”. People's Choice Awards. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016.
  121. ^ “2000 – Actress in a Supporting Role, Drama”. International Press Academy. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  122. ^ “2011 – Categories”. International Press Academy. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  123. ^ “2019 Winners”. International Press Academy. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  124. ^ Miller, Ross (19 tháng 2 năm 2010). “Avatar Leads 2010 Saturn Awards Nominations”. ScreenRant. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  125. ^ Moore, Debi (20 tháng 2 năm 2013). “2013 Saturn Award Nominees Announced”. Dread Central. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  126. ^ “Past Saturn Award Recipients”. Saturn Awards. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  127. ^ DeMott, Rick (22 tháng 11 năm 2005). “Spike TV Video Game Awards 2005 Winners Announced”. Animation World Network. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  128. ^ “2003 San Francisco Film Critics Circle Awards”. San Francisco Film Critics Circle Awards. 15 tháng 12 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  129. ^ Anderson, Erik (13 tháng 12 năm 2019). “San Francisco Film Critics nominations: 'Once Upon a Time...' leads with 8”. AwardsWatch. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  130. ^ “6th Annual Screen Actors Guild Awards Nominations (2000)”. DigitalHit. 1 tháng 1 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  131. ^ King, Susan (23 tháng 2 năm 2004). “In a Surprise, SAG Chooses Johnny Depp as Best Actor”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  132. ^ Calvario, Liz (19 tháng 1 năm 2020). “Charlize Theron Is a Show-Stopper at 2020 SAG Awards”. Entertainment Tonight. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  133. ^ Truman, Isabelle. “SAG Awards 2020: Charlize Theron Arrives On Red Carpet Wearing XXX”. Grazia. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  134. ^ Neglia, Matt (16 tháng 12 năm 2018). “The 2018 St. Louis Film Critics Association (StLFCA) Winners”. Next Best Picture. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  135. ^ Neglia, Matt (12 tháng 8 năm 2019). “The 2019 St. Louis Film Critics Association (StLFCA) Nominations”. Next Best Picture. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  136. ^ “Teen Choice Awards 2012: List of winners”. CBS News. 23 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  137. ^ Ng, Philiana (14 tháng 6 năm 2012). “Teen Choice Awards 2012: 'Breaking Dawn,' 'Snow White' Lead Second Wave of Nominees”. The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  138. ^ Crist, Allison; Nordyke, Kimberly (31 tháng 7 năm 2016). “Choice Movie Villain – Teen Choice Awards: Winners List”. The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  139. ^ Rubin, Rebecca (14 tháng 8 năm 2017). “Teen Choice Awards 2017: 'Riverdale,' Fifth Harmony Shut Out Competition”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  140. ^ "Charlize Theron" – Interviews”. Tele (bằng tiếng Đức). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  141. ^ “Movie critics everywhere weigh in with their picks for the best in 2005”. Variety. 8 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  142. ^ “2015 WAFCA Award Winners”. The Washington DC Area Film Critics Association. 7 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  143. ^ Neglia, Matt (22 tháng 12 năm 2017). “The 2017 Women Film Critics Circle (WFCC) Winners”. Next Best Picture. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  144. ^ McNary, Dave (3 tháng 6 năm 2019). “Charlize Theron to Receive 2019 American Cinematheque Award”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2019.
  145. ^ “Charlize Theron to be honoured with 2019 American Cinematheque award”. Business Standard. Press Trust of India. 4 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2019.
  146. ^ Hipes, Patrick (4 tháng 11 năm 2019). “Hollywood Film Awards 2019: The Complete Winners List”. Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  147. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  148. ^ “Theron to receive Indie Impact Award”. China Daily. 9 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Wiki - Keonhacai copa chuyên cung cấp kiến thức thể thao, keonhacai tỷ lệ kèo, bóng đá, khoa học, kiến thức hằng ngày được chúng tôi cập nhật mỗi ngày mà bạn có thể tìm kiếm tại đây có nguồn bài viết: https://vi.wikipedia.org/wiki/Charlize_Theron